Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Ý NGHĨA TÌNH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CỦA NHÓM TRỢ TỪ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TRONG TIẾNG VIỆT

 

Ý NGHĨA TÌNH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG

CỦA NHÓM TRỢ TỪ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TRONG TIẾNG VIỆT

ĐỖ PHƯƠNG LÂM*

*TS; Trường Đại học Hải Phòng; Email: dolamdhhp@gmail.com

TÓM TẮT: Trong tiếng Việt, trợ từ là một trong những hư từ quan trọng dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái, nhấn mạnh và đánh giá về nội dung phát ngôn. Bài viết này tập trung khảo sát và miêu tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa tình thái và đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ trong tiếng Việt, bao gồm: nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp (duy, chỉ, độc, mỗi, trần) và nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao (đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí). Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ hệ thống hư từ tiếng Việt và có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong dạy học tiếng Việt.

TỪ KHÓA: trợ từ, trợ từ đánh giá mức độ, hư từ tiếng Việt, ý nghĩa tình thái

 

MODAL MEANING AND USAGE CHARACTERISTICS OF DEGREE-EVALUATIVE PARTICLES IN VIETNAMESE

Abstract: In Vietnamese, particles (trợ từ) are among the most important function words for expressing modal meaning, emphasis, and evaluative attitudes towards the propositional content of utterances. This article systematically investigates the grammatical, modal-semantic, and usage characteristics of degree-evaluative particles in Vietnamese, covering two semantically contrasting groups: the low-degree evaluative particles (duy, chỉ, độc, mỗi, trần) - expressing limitation, restriction, or uniqueness - and the high-degree evaluative particles (đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí) - expressing excess, abundance, or unexpected high degree. Each particle is analyzed in terms of syntactic position, combinatory patterns, modal nuances, and stylistic register, illustrated with examples from both literary and everyday Vietnamese. The findings contribute to the theory of Vietnamese function words and may serve as reference material for Vietnamese language pedagogy.

Keywords: particles, degree-evaluative particles, Vietnamese function words, modal meaning

 

Mở đầu

Đánh giá tức là so sánh một yếu tố theo một chuẩn nào đấy. Nói chung, sự so sánh và đánh giá của con người là đa dạng và thường theo hai chiều ngược nhau: chiều đánh giá thấp, đánh giá hạn chế, gọi chung là đánh giá âm (−); và chiều đánh giá cao, đánh giá hơn mức bình thường, gọi chung là đánh giá dương (+). Đánh giá mà bài viết đề cập đến bao hàm cả về số lượng, phạm vi, mức độ. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc trình bày, chúng tôi gọi giản lược là “đánh giá mức độ”. Đánh giá mức độ có sự đối lập giữa: ít >< nhiều; thấp >< cao; đánh giá về hình thức có sự đối lập giữa: đẹp >< xấu; tốt >< xấu; giỏi >< kém,... Đánh giá và nhấn mạnh vào một nội dung, ý nghĩa nào đó của phát ngôn là chức năng cơ bản của trợ từ.

Trong tiếng Việt, hệ thống trợ từ rất phong phú và đa dạng. Đây là lớp hư từ mang ý nghĩa tình thái rõ nét nhất, phản ánh thái độ, quan điểm, cách đánh giá của người nói đối với nội dung được đề cập. Bài viết này tập trung vào nhóm trợ từ đánh giá mức độ, một tiểu nhóm quan trọng trong hệ thống trợ từ tiếng Việt, gồm hai nhóm đối lập nhau: nhóm biểu thị đánh giá mức độ âm (-) (còn gọi là đánh giá ít, giới hạn, hạn chế) và nhóm biểu thị đánh giá mức độ dương (+) (đánh giá nhiều, vượt trội so với kỳ vọng).

Một điểm đáng chú ý là nhiều trợ từ trong nhóm này vốn là hư từ kiêm, tức là cùng một từ có thể đảm nhận chức năng của phó từ lẫn trợ từ tùy ngữ cảnh. Điều này tạo ra sự phức tạp trong việc nhận diện và miêu tả chức năng của chúng. Bài viết sẽ lần lượt phân tích từng trợ từ, kết hợp dẫn ngữ liệu từ văn học và đời sống để làm rõ đặc điểm sử dụng.

1. Tổng quan nghiên cứu

Trợ từ là một trong những đối tượng phức tạp và thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam từ trước đến nay. Có thể điểm qua các hướng nghiên cứu chính như sau.

Theo cách tiếp cận truyền thống, Nguyễn Kim Thản (1977, 1997) là một trong những người đầu tiên hệ thống hóa hư từ tiếng Việt. Ông xem trợ từ là những từ "dùng để biểu thị thái độ, sự đánh giá chủ quan của người nói đối với sự việc được đề cập". Uỷ ban Khoa học xã hội (1983) trong Ngữ pháp tiếng Việt đã xếp trợ từ vào nhóm hư từ nhưng chưa phân loại chi tiết thành các tiểu nhóm theo chức năng đánh giá.

Đinh Văn Đức (1986) trong Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại) đã nhận xét rằng: "các từ phụ của động từ và tính từ trong tiếng Việt đều đồng thời tham gia diễn đạt tính tình thái", đặt nền tảng cho việc phân tích tính tình thái của hư từ, trong đó có trợ từ.

Nguyễn Anh Quế (1988) trong cuốn Hư từ trong tiếng Việt hiện đại đã phân loại trợ từ thành nhiều nhóm theo chức năng: trợ từ nhấn mạnh, trợ từ đánh giá về số lượng, trợ từ tình thái... Đây là công trình có hệ thống sớm nhất về trợ từ tiếng Việt và được coi là nền tảng cho nhiều nghiên cứu sau này.

Diệp Quang Ban (2004) phân biệt "tiểu từ tình thái" (gồm ngữ thái từ và trợ từ) như một tiểu loại hư từ đặc thù. Trong đó, trợ từ được ông xác định là "những từ biểu thị ý nghĩa tình thái, thường đi kèm với một thành phần câu hoặc cả câu để nhấn mạnh, đánh giá".

Hoàng Trọng Phiến (2008) trong Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt đã giải thích cách dùng của khoảng 380 hư từ, trong đó có nhiều trợ từ đánh giá mức độ được miêu tả chi tiết qua các ví dụ phong phú.

Bùi Minh Toán (2013, 2017, 2021) đã tiếp cận hư từ theo lý thuyết ba bình diện (kết học, nghĩa học, dụng học), cho rằng hư từ nói chung và trợ từ nói riêng cần được nghiên cứu trong sự tích hợp cả ba bình diện đó. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến nghĩa hàm ẩn và chức năng văn hóa giao tiếp của hư từ tiếng Việt.

Bùi Thanh Hoa (2012) trong bài "Nhóm hư từ mang ý nghĩa đánh giá ít" đã khảo sát một số trợ từ biểu thị mức độ thấp như duy, chỉ, mỗi..., đặt câu hỏi về ranh giới giữa chức năng phó từ và trợ từ của những từ này.

Trương Thị Mỹ Hậu (2018) trong bài "Đặc điểm ngữ nghĩa của trợ từ mang sắc thái đánh giá trong tiếng Việt" đã phân tích các trợ từ đánh giá từ góc độ ngữ nghĩa học, làm rõ sắc thái biểu cảm và chức năng đánh giá của chúng trong giao tiếp.

Nhìn chung, đã có một số công trình đề cập đến trợ từ đánh giá trong tiếng Việt, nhưng chủ yếu trong khuôn khổ các công trình ngữ pháp tổng quát hoặc chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ. Bài viết này nhằm khảo sát có hệ thống hơn toàn bộ nhóm trợ từ đánh giá mức độ, đối sánh hai tiểu nhóm đối lập nhau và chú ý đến đặc điểm sử dụng cụ thể qua ngữ liệu đa dạng.

2. Khái quát về trợ từ và trợ từ đánh giá mức độ

2.1. Trợ từ trong tiếng Việt

Trợ từ (particles, emphatic words) là những hư từ không làm thành phần của đoản ngữ, không làm thành phần câu độc lập, mà chuyên bổ sung ý nghĩa tình thái cho một thành phần câu hoặc cho toàn bộ phát ngôn. Khác với phó từ luôn đứng liền kề với từ trung tâm trong đoản ngữ để bổ sung ý nghĩa, trợ từ hoạt động ở tầng câu và tầng phát ngôn.

Trợ từ mang đặc trưng tình thái (modal features) rất cao. Chúng phản ánh trực tiếp quan điểm, thái độ, sự đánh giá của chủ thể phát ngôn đối với nội dung được nói đến. Đây là điểm khác biệt quan trọng nhất giữa trợ từ và phó từ. Nếu như phó từ bổ nghĩa cho từ trung tâm trong kết cấu đoản ngữ thì trợ từ đánh giá, bình luận về một thành phần hoặc cả nội dung phát ngôn. Về mặt hình thức, vị trí của trợ từ trong câu thường linh hoạt hơn phó từ.

Cần phân biệt rõ trợ từ với phó từ trong trường hợp hư từ kiêm. Lấy ví dụ từ chỉ:

(1) Loan chỉ thích chơi bóng đá thôi.

(2) Cả nhóm con gái, chỉ Loan thích chơi bóng đá.

Trong câu (1), chỉ đứng liền trước vị từ “thích”, đảm nhiệm chức năng phó từ, có vai trò hạn định phạm vi của hành động. Trong câu (2), chỉ đứng trước chủ ngữ Loan, đánh giá về tính duy nhất của đối tượng trong tập hợp: đây chính là chức năng trợ từ. Trợ từ thôi ở cuối câu (1) mới thực sự là trợ từ nhấn mạnh ý hạn chế.

2.2. Trợ từ đánh giá mức độ và đặc trưng của nhóm

Trợ từ đánh giá mức độ là những trợ từ mà nội dung chính của chúng là biểu thị thái độ đánh giá của người nói về mức độ, số lượng, phạm vi của sự tình được đề cập trong câu. Chúng hoạt động theo hai chiều đối lập:

-  Chiều đánh giá âm (−): đánh giá mức độ thấp, ít, giới hạn, duy nhất. Nội dung phát ngôn được người nói đánh giá là ít hơn kỳ vọng, giới hạn trong một phạm vi, hoặc chỉ là duy nhất. Nhóm này bao gồm các trợ từ: duy, chỉ, độc, mỗi, trần.

-  Chiều đánh giá dương (+): đánh giá mức độ cao, nhiều, vượt trội, bất ngờ. Nội dung phát ngôn được người nói đánh giá là nhiều hơn kỳ vọng, vượt quá mức bình thường. Nhóm này bao gồm các trợ từ: đến, tới, những, cả, hẳn.

Một đặc điểm quan trọng là trong tiếng Việt, các trợ từ đánh giá mức độ thấp chủ yếu có gốc Hán Việt (duy 唯, chỉ
, độc 獨, mỗi , trần ), trong khi các trợ từ đánh giá mức độ cao chủ yếu là thuần Việt (đến, tới, những, cả, hẳn). Điều này phần nào phản ánh ảnh hưởng của tiếng Hán đối với cách biểu đạt sự hạn chế, thu hẹp trong tiếng Việt.

 

Bảng 1. Phân loại trợ từ đánh giá mức độ trong tiếng Việt

Chiều đánh giá

Trợ từ

Nguồn gốc

Ý nghĩa khái quát

Âm (−) Đánh giá mức độ thấp/ít/giới hạn

duy, chỉ, độc, mỗi, trần

Hán Việt

Số lượng/phạm vi ít, hạn chế, chỉ duy nhất, không còn gì hơn

Dương (+) Đánh giá mức độ cao/nhiều/vượt trội

đến, tới, những, cả, hẳn

Việt

Số lượng/phạm vi nhiều, đáng kể, vượt kỳ vọng, bất ngờ

 

3. Nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp

Nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp là phương tiện để chủ thể phát ngôn bày tỏ quan điểm, thái độ nhận định về sự tình, đối tượng theo chiều: ít, hạn chế, giới hạn, duy nhất. Nhóm này gồm: duy, chỉ, độc, mỗi, trần.

3.1. Trợ từ chỉ

Chỉ là một hư từ kiêm: phó từ và trợ từ, cũng như nhiều hư từ kiêm khác của tiếng Việt (đã, những, đến, v.v.) Vì thế, khi từ chỉ xuất hiện trong một ngữ cảnh nào đó, thường khó phân biệt được vai trò ngữ pháp cụ thể của nó là phó từ hay trợ từ.

Khi chỉ đi kèm trước một vị từ (động từ) thì nó đóng vai trò phó từ mang ý nghĩa hạn định cho hành động ấy. Khi chỉ đứng trước danh từ, đại từ, tức là nó có vị trí khá tự do trong câu, thì nó là trợ từ đánh giá về số lượng, phạm vi. Trợ từ chỉ không phải là đánh giá số lượng ít mà là đánh giá về tính duy nhất hoặc tính giới hạn. Ví dụ:

(3) ... phiếm du ngoài các phố Hà Nội là một cái thú vô song chỉ người Hà Nội có...  (Thạch Lam, Hà Nội 36 phố phường)

(4) Nhưng cũng chỉ lúc ấy thôi, còn thì lặng yên, lặng yên hoàn toàn.  (Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn)

Cũng vì thế mà vị trí của trợ từ chỉ trong câu khá linh hoạt: nó có thể đứng đầu hoặc giữa câu, tùy theo vị trí của đối tượng được nhấn mạnh. Trợ từ chỉ thường đi kèm cuối phát ngôn với các trợ từ thôi, mà thôi, làm thành kết cấu đánh giá sự hạn chế về số lượng, giới hạn về phạm vi:

chỉ + ... + thôi / mà thôi

(5) Gọi là "yêu", nhưng chỉ nói với nhau được dăm ba câu rồi lại về thôi.  (Nguyễn Huy Thiệp, Những người thợ xẻ)

(6) ... trên đời này chỉ có mình bà là thương tôi mà thôi.  (Nam Cao, Lão Hạc)

3.2. Trợ từ duy

Duy cũng là một trợ từ kiêm phó từ có chức năng tương đương với chỉ. Duy được dùng khá phổ biến trong các văn bản tiếng Việt giai đoạn 1930-1945 trở về trước, xuất hiện nhiều trong văn xuôi chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, gần đây duy gần như đã được thay thế bằng chỉ. Tần suất hoạt động và tính phổ biến của duy thấp hơn nhiều lần so với chỉ.

Duy chỉ thích hợp với phong cách văn chương, trong các cách nói nệ cổ mà xa rời với phong cách khoa học, hành chính. Ví dụ:

(7) Đêm nọ canh khuya vắng vẻ, trong nhà tôi tớ đến ngủ hết, duy lối xóm còn một hai nhà thức giã gạo, và dưới sông một lát nghe tiếng hát rả rích của mấy người chèo ghe mà thôi.  (Hồ Biểu Chánh, Một chữ tình)

(8) Ai nấy đều cười, duy Xuân Hương ngồi im một mình.  (Nguyễn Công Hoan, Đào kép mới)

(9) Tôi chẳng thấy gì cả, duy nhớ mãi cái bóng nhỏ bé, lủi thủi đi trong mưa.  (Nam Cao, Sống mòn)

Ý nghĩa tình thái của duy gần giống với chỉ, nhưng duy có sắc thái trang trọng, cổ kính hơn và thường hàm chứa một chút ngậm ngùi, xúc cảm về sự thiếu vắng hay đơn độc.

3.3. Trợ từ độc

Khác với hai trợ từ duy, chỉ, thường được dùng để đánh giá giới hạn về mặt đối tượng; độc có phạm vi sử dụng rộng hơn: đánh giá hành động, trạng thái, sự việc, sự vật. Nội dung được đem ra đánh giá có thể biểu hiện bằng động từ, tính từ hoặc số từ, danh từ.

Về vị trí ngữ pháp, trợ từ độc đứng ngay phía trước yếu tố ngôn ngữ mà nó đánh giá, nhấn mạnh. Khi đánh giá về tính duy nhất, tính giới hạn của hành động, trợ từ độc thường bao hàm những nhận định, bình luận, phê bình về sự không chính đáng, không đúng đắn. Chẳng hạn: độc nghĩ lung tung, độc nói nhảm…

Đặc biệt, khi nhấn mạnh về tính duy nhất của sự vật, trợ từ độc thường đi kèm với phó từ chỉ ở phía trước và số từ một ở phía sau, tạo thành cấu trúc ba thành tố:

chỉ + ... + độc + một + ...

Trong 100 văn cảnh có trợ từ độc được thống kê từ các tác phẩm văn học, có đến 62 trường hợp độc kết hợp theo cấu trúc đầy đủ ba thành tố  nêu trên. Ví dụ:

(10) Năm đứa chỉ làm độc một nghề...  (Chu Lai, Sông xa)

(11) - Dạ, bẩm cậu, ở hũ lớn cũng chỉ còn độc một bình.  (Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời)

(12) Anh ta chỉ mặc độc một chiếc quần đùi rộng ống đã rách te tua ở gấu...

(13) Bù lại, cậu chỉ cần làm độc một việc: thiết kế cho tôi một căn hộ ba tầng.  (Chu Lai, Phố nhà binh)

Trong kết cấu này, một trong hai thành tố chỉ hoặc một, hoặc cả hai có thể vắng mặt mà không ảnh hưởng đến ý nghĩa của phát ngôn. Kết cấu vắng “chỉ:

(14) Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành.  (Kim Lân, Vợ nhặt)

Kết cấu vắng “một:

(15) Sáng hôm đó trời lạnh cắt ruột, anh chỉ mặc độc chiếc may ô trắng và quần đùi xanh ống bó sát đùi.  (Phùng Quán, Tuổi thơ dữ dội)

Kết cấu vắng cả “chỉ và “một:

(16) Mụ Hai Nà nằm sấp trong mui lái ghe. Trời oi bức, mụ mặc độc chiếc áo lót ngắn.  (Anh Đức, Người đào hát)

3.4. Trợ từ mỗi

Mỗi cũng là một hư từ kiêm đa chức năng: khi thì nó đứng trước danh từ làm phó từ hạn định số lượng; khi thì kết hợp với hư từ “mỗi”, “một” làm thành cặp liên từ biểu thị quan hệ tăng tiến hoặc tương ứng 1-1; khi thì nó lại làm trợ từ biểu thị sự đánh giá về số lượng: chỉ duy nhất, không còn gì hơn.

Trong trường hợp mỗi làm trợ từ, nó thường kết hợp với số từ một đi kèm (mỗi một...). Ví dụ:

(17) Bà có mỗi một mống con thôi. Ai chả tưởng: quí hơn vàng.  (Nam Cao, Điếu văn)

Ngoài ra, mỗi còn biểu thị ý nghĩa đánh giá ít về số lượng, ý nghĩa duy nhất, không còn gì khác, và có thể kết hợp với các số từ biểu thị số nhiều. Trong những trường hợp này, mỗi không thể hiện ý nghĩa "phần tử rút ra từ bộ phận" mà diễn đạt ý nghĩa hạn định về mặt số lượng, luôn bao hàm sắc thái biểu cảm. Ví dụ:

(18) Đến cánh đồng bông, tôi thấy anh chui vào, một lát sau chui ra, thấy người khác hẳn, trên người buộc đầy cành lá, mình mặc mỗi chiếc quần đùi.  (Nguyễn Huy Thiệp, Những người thợ xẻ)

Trong câu (18), “mỗi chiếc quần đùi” có nghĩa là nhân vật chỉ duy nhất mặc một chiếc quần, ngoài ra không mặc thứ nào khác. Đứng sau trợ từ mỗi còn có thể là số từ biểu thị số nhiều:

(19) Hay các bác về nhà chúng tôi? Nhà chỉ có mỗi hai vợ chồng son, cũng rộng rãi.  (Nguyễn Huy Thiệp, Những người thợ xẻ)

(20) Ông Vỹ đông con, nhà nghèo, về mang theo mỗi chục quả tai chua với chai rượu trắng làm quà.  (Nguyễn Huy Thiệp, Không có vua)

(21) Kiên biết, dưới cái bóng âm u, hoang vắng nọ (...) chỉ có mỗi ba cô gái...  (Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh)

Trong các ví dụ (19), (20), (21), mặc dù đứng sau mỗi là các từ biểu thị số nhiều (hai, chục, ba), nhưng các phát ngôn đều hàm chứa ý nghĩa đánh giá ít về số lượng. Đây chính là sắc thái tình thái đặc trưng của trợ từ mỗi.

3.5. Trợ từ trần

Trần dùng trong cách đánh giá có tính giới hạn. Người nói bày tỏ thái độ đánh giá về mức độ, số lượng, chất lượng, phạm vi, tính chất trong một giới hạn nào đó và không có gì thêm nữa. Ví dụ:

(22) Nhà bà cụ bị kẻ cướp vơ vét hết chỉ còn trần cái niêu đất.  (dẫn theo Hoàng Trọng Phiến, tr. 265)

(23) Trên người chỉ trần chiếc quần cộc.  (dẫn theo Từ điển tiếng Việt 2014, tr. 1320)

(24) Trong nhà có trần bộ bàn ghế.

Về vị trí trong câu, trợ từ trần không có được sự linh hoạt như các trợ từ đánh giá mức độ khác. Nó luôn đứng liền trước đối tượng được đưa ra đánh giá. Về mặt kết hợp, trần cũng thường đi kèm với phó từ chỉ ở phía trước, làm thành kết cấu: chỉ... trần..., trong đó một trong hai thành tố có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng đến ý nghĩa đánh giá.

So sánh với các trợ từ cùng nhóm, trần có sắc thái biểu cảm mạnh hơn duy, chỉ. Nó không chỉ đánh giá về số lượng ít mà còn hàm chứa thái độ thương cảm, ngạc nhiên, hoặc bất mãn trước sự thiếu thốn, nghèo nàn về vật chất.

 

Bảng 2. So sánh đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp

Trợ từ

Nguồn gốc

Vị trí trong câu

Kết cấu thường gặp

Phong cách sử dụng

chỉ

Hán Việt

Linh hoạt (đầu/giữa câu)

chỉ...thôi/mà thôi

Mọi phong cách, thông dụng nhất

duy

Hán Việt

Đầu/giữa câu

duy...mà thôi

Văn chương, cổ điển; nệ cổ

độc

Hán Việt

Trước đối tượng nhấn mạnh

chỉ...độc một...

Văn học, khẩu ngữ

mỗi

Hán Việt

Trước số từ/danh từ

mỗi một...; mỗi + số nhiều

Khẩu ngữ, văn học

trần

Hán Việt

Trước đối tượng nhấn mạnh (cố định)

chỉ...trần...

Khẩu ngữ, văn học

 

4. Nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao

Đối lập với nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp ở trên là nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao, những từ biểu thị thái độ đánh giá rằng số lượng, phạm vi, mức độ của sự tình nhiều hơn, vượt trội hơn so với kỳ vọng thông thường. Nhóm này bao gồm: đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí. Nhóm này hầu hết là từ thuần Việt (chỉ có thậm chí là từ Hán Việt).

4.1. Trợ từ đến

Đến vốn là động từ chỉ sự di chuyển (ví dụ: Tàu vừa đến ga.), nhưng khi trải qua quá trình hư hóa, chuyển loại thành trợ từ, nó biểu thị thái độ ngạc nhiên, bất ngờ, hay nhấn mạnh về số lượng, mức độ vượt quá kỳ vọng của người nói. Trợ từ đến thường đứng trước số từ hoặc danh từ chỉ số lượng. Sắc thái của trợ từ đến là đánh giá số lượng nhiều một cách đáng ngạc nhiên, đôi khi hàm ý thán phục hay lo ngại.

(25) Anh ấy đã viết đến ba cuốn sách trong một năm! (Khẩu ngữ)

(26) Tính ra đến lúc ấy anh ta đã ăn cắp của anh em đến hai mươi vạn rồi. (Nguyễn Khải, Chuyện người tổ trưởng máy kéo)

(27) Chị ơi, cái áo này đắt đến hai triệu cơ đấy! (Khẩu ngữ)

(28) Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm trang giấy. (Nam Cao, Đôi mắt)

Trong các câu vừa dẫn, trợ từ đến hàm chứa ý nghĩa đánh giá: số lượng được đề cập là nhiều, cao, hoặc kéo dài hơn bình thường, đồng thời biểu thị thái độ ngạc nhiên, thậm chí phàn nàn của người nói. Khi kết hợp với từ cả ở đầu câu, trợ từ đến tạo thành cấu trúc đánh giá tăng cường:

(29) Cả trẻ con cũng biết chuyện đó, huống gì đến người lớn.

(30) Cả đến chuyến tàu chở tôi và Lâm từ thành phố về buổi sáng nay nữa, tôi cũng quên biến. (Nguyễn Huy Thiệp, Những bài học nông thôn)

4.2. Trợ từ tới

Tới có ý nghĩa và chức năng gần giống với trợ từ đến, cũng biểu thị sự đánh giá về số lượng, mức độ nhiều, cao, vượt trội. Sự khác biệt chủ yếu là ở phong cách: tới mang sắc thái khẩu ngữ rõ hơn, thông dụng hơn trong lời nói hằng ngày; đến thì có thể dùng trong cả văn viết. Ví dụ:

(31) Mày nợ tao tới chục triệu đồng rồi mà mày quên à?  (Khẩu ngữ)

(32) Thằng bé học tới trường chuyên tỉnh, giỏi lắm.  (Khẩu ngữ)

(33) Nó làm việc tới tận nửa đêm mới về. (Khẩu ngữ)

Giống như đến, tới cũng có thể xuất hiện trong các câu biểu thị mức độ đạt đến một giới hạn ấn tượng: tới mức, tới nỗi, làm thành kết cấu đánh giá mức độ hệ quả.

(34) Anh ta cười to tới nỗi nước mắt chảy ra ròng ròng.

(35) Câu chuyện hay tới mức cả lớp ngồi im thin thít lắng nghe.

4.3. Trợ từ những

Những vốn là phó từ biểu thị số nhiều, đứng trước danh từ (những con người, những cánh đồng...), nhưng khi chuyển loại thành trợ từ, nó đứng trước số từ để biểu thị đánh giá về số lượng nhiều, vượt quá mức bình thường hay kỳ vọng. Đây là một trong những trường hợp điển hình của hư từ kiêm trong tiếng Việt.

Khi làm trợ từ, những thường đứng trước số từ cụ thể và hàm chứa thái độ ngạc nhiên, thán phục hoặc thậm chí phàn nàn về sự quá nhiều. Ví dụ:

(36) Nó ăn những ba bát cơm! (Khẩu ngữ)

(37) Nếu còn những bốn người chưa có vợ thì tôi đành là không có phần. (Nam Cao, Cái mặt không chơi được)

Cũng có trường hợp, trợ từ những đứng trước danh từ (những + [danh từ]), đánh giá mức độ nhiều, dày đặc, không có gì khác ngoài thứ, vật được nói đến, như sự kết hợp những + mỡ trong câu (38) dưới đây:

(38) Hắn tưởng tượng ra cái cảnh lũ con háu ăn và đói khát, rón thịt bằng tay và ăn những miếng bánh thật to, miệng phụng phịu và môi bóng nhờn những mỡ. (Nam Cao, Đời thừa)

Cần phân biệt những với tư cách phó từ đứng trước danh từ đếm được và những với tư cách trợ từ đứng trước danh từ không đếm được (mỡ). Trong câu (38):

Phó từ: những miếng bánh  đứng trước danh từ (miếng bánh), không hàm ý đánh giá về lượng

Trợ từ: những mỡ    đứng trước danh từ không đếm được, hàm ý vật/ chất (mỡ) vượt kỳ vọng về lượng.

4.4. Trợ từ cả

Cả là trợ từ đánh giá bao gộp, nhấn mạnh tính toàn bộ, không có ngoại lệ. Khi làm trợ từ, cả đứng trước danh từ, đại từ hoặc cụm từ để biểu thị thái độ đánh giá: kể cả, không loại trừ, thậm chí ngay cả cái/người bình thường nhất cũng vậy. Ví dụ:

(39) Trận ấy thắng lớn. Cả trời đất cũng như vui theo. (Nguyễn Minh Châu, Dấu chân người lính)

(40) Mọi người đều biết chuyện, cả trẻ con cũng biết.

(41) Cả đến cái tên mình, lúc ấy mình cũng không nhớ nổi.  (Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh)

(42) Trời rét đến nỗi cả cây cỏ cũng run cầm cập.

Trợ từ cả thường xuất hiện trong cặp: cả ... cũng/cũng đều/đều, tạo thành cấu trúc đánh giá bao gộp và tăng cường:

cả + [thành phần được nhấn mạnh] + cũng / đều / cũng đều

Sắc thái tình thái của trợ từ cả thường là sự ngạc nhiên pha lẫn thán phục hay ngậm ngùi: ngay cả điều/người tưởng như khó có thể xảy ra/tham gia cũng không phải là ngoại lệ.

4.5. Trợ từ hẳn

Hẳn là trợ từ biểu thị sự đánh giá chắc chắn, rõ ràng, không thể phủ nhận về mức độ hay tính chất của sự tình. Trợ từ hẳn hàm chứa thái độ khẳng định mạnh, đôi khi pha chút ngạc nhiên rằng sự tình đúng như vậy, rõ ràng là như vậy. Ví dụ:

(43) Chị ấy đẹp hẳn lên sau khi về quê nghỉ ngơi một thời gian.

(42) Thằng bé lớn hẳn, tôi gần như không nhận ra nữa.

(45) Ăn được bát cơm nóng, người tôi khỏe hẳn.

(46) Từ khi sang học lớp mới, nó học khá hẳn ra.

Hẳn thường đứng sau tính từ hoặc vị từ trạng thái, biểu thị sự thay đổi rõ rệt, đáng kể. Cũng vì thế mà hẳn hay xuất hiện trong những phát ngôn miêu tả sự biến đổi tích cực qua thời gian. Kết hợp phổ biến: tính từ/vị từ + hẳn hoặc tính từ/vị từ + hẳn ra, hẳn lên.

So sánh hẳn với các trợ từ đánh giá mức độ cao khác:

(47) Anh ta gầy đến mức không nhận ra được. (đến: ngạc nhiên về mức độ)

(48) Anh ta gầy những chục cân. (những: ngạc nhiên về số lượng cụ thể)

(49) Anh ta gầy hẳn đi so với trước. (hẳn: nhấn mạnh sự thay đổi rõ ràng)

 

4.6. Trợ từ thậm chí

Thậm chí có vị trí linh hoạt trong câu: đứng đầu câu/vế câu (hoặc trong câu). Là cầu nối giữa hai thành phần nội dung: thành phần nêu hiện trạng thông thườngthành phần nêu nghịch lí/cực điểm. Thành phần đứng sau thậm chí mới là trọng tâm của thông báo. Trong tiếng Việt, thậm chí linh hoạt hơn tiếng Hán về vị trí. Nó có thể đứng đầu câu độc lập hoặc giữa câu.

Về ngữ nghĩa, trợ từ thậm chí dùng để đánh giá rằng điều đang nói đến còn vượt xa hơn cả những điều đã biết hoặc đã nói trước đó. Thậm chí nêu cực điểm trong thang độ với hàm ý: nếu điều trước đã đáng chú ý, điều sau lại còn đáng chú ý hơn, tới mức không ngờ đến:

(50) Liên bị ép gả, không yêu hắn, thậm chí căm hờn hắn. (Ma Văn Kháng)

(51) Tôi không sợ những lời quát mắng. Thậm chí những câu chửi rủa tục tằn cũng không làm tôi bực tức hay run sợ nữa. (Đoàn Giỏi)

 

Bảng 3. So sánh đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao

Trợ từ

Vị trí trong câu

Kết hợp thường gặp

Sắc thái tình thái chính

đến

Trước số từ, danh từ, đoản ngữ

đến + số từ; cả... đến...

Ngạc nhiên/nhấn mạnh về mức độ/phạm vi; lo ngại

tới

Trước số từ, đoản ngữ

tới + số từ; tới mức/nỗi + kết quả

Ngạc nhiên về số lượng; khẩu ngữ hơn đến

những

Trước số từ hoặc danh từ không đếm được

những + số từ

Ngạc nhiên/thán phục về số lượng nhiều, vượt kỳ vọng

cả

Trước danh từ/cụm từ

cả + X + cũng/đều

Bao gộp không ngoại lệ; thậm chí/kể cả

hẳn

Sau tính từ/vị từ

tính từ + hẳn; hẳn + ra/lên/đi

Khẳng định sự thay đổi rõ ràng, đáng kể

thậm chí

Tự do

[mệnh đề thông thường] + thậm chí +[mệnh đề nghịch lý]

Đánh giá điều vượt xa kì vọng

 

5. Một số đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ

5.1. Sự đối lập giữa hai nhóm trong cùng một phát ngôn

Hai nhóm trợ từ đánh giá mức độ đối lập nhau có thể xuất hiện trong cùng một phát ngôn để tạo ra hiệu quả đối chiếu, nhấn mạnh về sự tương phản:

(52) Chỉ một chén rượu mà anh đã say đến ngã không đứng dậy được.

Trong câu (52), chỉđến tạo thành cấu trúc tương phản: chỉ + ít (một chén) nhưng đến + nhiều (mức kết quả nặng). Đây là một dạng cấu trúc thông dụng trong lời nói hằng ngày để biểu thị sự tương phản mức độ nguyên nhân - kết quả.

5.2. Nhận diện các hư từ kiêm  

Như đã phân tích, nhiều trợ từ trong cả hai nhóm là hư từ kiêm. Điều này tạo ra không ít khó khăn trong việc nhận diện. Tiêu chí phân biệt hữu hiệu nhất là: (1) phó từ đứng liền kề với từ trung tâm trong đoản ngữ; (2) trợ từ đứng liền kề với thành phần được đánh giá nhấn mạnh và hoạt động ở tầng câu, không phụ thuộc vào đoản ngữ. Ngoài ra, ý nghĩa tình thái (đánh giá, nhấn mạnh) là dấu hiệu rõ ràng của trợ từ.

5.3. Sắc thái biểu cảm và phong cách sử dụng

Mỗi trợ từ trong hai nhóm có sắc thái biểu cảm riêng biệt và gắn với các phong cách sử dụng nhất định. Nhìn chung, các trợ từ Hán Việt (duy, chỉ, độc, mỗi, trần) mang sắc thái trang trọng, văn chương hơn; các trợ từ thuần Việt (những, đến, tới, cả, hẳn) phổ biến hơn trong giao tiếp hằng ngày và trong ngôn ngữ văn học hiện đại. Sự lựa chọn đúng trợ từ trong từng ngữ cảnh thể hiện trình độ sử dụng tiếng Việt và khả năng biểu cảm tinh tế.

Kết luận

Trợ từ đánh giá mức độ trong tiếng Việt tạo thành một tiểu hệ thống đối xứng gồm hai nhóm đối lập: nhóm đánh giá thấp gồm: duy, chỉ, độc, mỗi, trần và nhóm đánh giá cao, gồm: đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí). Giữa hai nhóm có sự phân công về nguồn gốc từ nguyên: nhóm đánh giá thấp hoàn toàn là từ Hán Việt, trong khi nhóm đánh giá cao hầu hết là từ thuần Việt.

Mỗi trợ từ đánh giá mức độ đều có đặc điểm riêng về vị trí cú pháp, khả năng kết hợp, sắc thái tình thái và phong cách sử dụng. Sự phân biệt rõ ràng nhất giữa trợ từ và phó từ kiêm cùng loại là: trợ từ hoạt động ở tầng câu, nhấn mạnh và đánh giá toàn bộ hoặc một thành phần phát ngôn về mặt mức độ, số lượng, phạm vi; trong khi phó từ bổ nghĩa cho từ trung tâm trong đoản ngữ.

Nghiên cứu nhóm trợ từ đánh giá mức độ không chỉ làm phong phú thêm lý thuyết về hư từ và tình thái trong tiếng Việt, mà còn có ý nghĩa ứng dụng thiết thực trong dạy học tiếng Việt, đặc biệt là dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài - những người thường gặp khó khăn khi phân biệt sắc thái và chức năng của các hư từ thuộc nhóm kiêm loại này.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2.      Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb. Đại học và THCN, Hà Nội.

3.      Trương Thị Mỹ Hậu (2018), "Đặc điểm ngữ nghĩa của trợ từ mang sắc thái đánh giá trong tiếng Việt", Tạp chí khoa học Trường Đại học Quy Nhơn, số 4-2018, tr. 59-72.

4.      Bùi Thanh Hoa (2012), "Nhóm hư từ mang ý nghĩa đánh giá ít", Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr. 56-62.

5.      Hoàng Thị Thanh Huyền (2016), "Trợ từ đánh giá trong tiếng Việt nhìn từ góc độ ngữ dụng học", Kỉ yếu Hội thảo Quốc gia "Nghiên cứu Liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy Ngôn ngữ lần II", Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế, tr. 268-277.

6.      Đỗ Phương Lâm (2014), Hư từ Hán Việt trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

7.      Hoàng Trọng Phiến (2008), Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

8.      Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

9.      Nguyễn Anh Quế (1988), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

10. Nguyễn Kim Thản (1997), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

11. Bùi Minh Toán (2013), "Hư từ tiếng Việt: Tiếp cận tích hợp từ lí thuyết ba bình diện", Từ điển học & Bách khoa thư, (3), tr. 19-26.

12. Bùi Minh Toán (chủ biên, 2017), Hư từ tiếng Việt trên các bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng, NXB. ĐHQG Hà Nội.

13. Bùi Minh Toán (2021), "Về văn hóa giao tiếp của người Việt qua việc sử dụng hư từ mang nghĩa hàm ẩn", Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào, số 4 (2021), tr. 17-23.

14. Trung tâm từ điển học (2014), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội.

15. Uỷ ban Khoa học xã hội (1983), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. KHXH, Hà Nội.

16. Phạm Hùng Việt (2003), Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB. KHXH.

 

Nguồn ngữ liệu

1.      Nam Cao, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học, 2011.

2.      Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh, Nxb. Văn học, 2012.

3.      Chu Lai, Sông xa; Phố nhà binh, Nxb. Văn học.

4.      Kim Lân, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học, 2018.

5.      Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, Nxb. Văn học, 2010.

6.      Nguyễn Công Hoan, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học, tái bản 2021.

7.      Nguyễn Huy Thiệp, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Hội Nhà văn, 2005.

8.      Nguyễn Minh Châu, Dấu chân người lính, Nxb. Quân đội nhân dân, 2008.

9.      Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời, Nxb. Hội Nhà văn, tái bản 2021.

10. Phùng Quán, Tuổi thơ dữ dội, Nxb. Kim Đồng, tái bản 2020.

11. Thạch Lam, Hà Nội 36 phố phường, Nxb. Văn học, tái bản 2019.

12. Anh Đức, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học.

13. Hồ Biểu Chánh, Tuyển tập tiểu thuyết, Nxb. Văn học.

14. Nguyễn Khải, Tập truyện ngắn, Nxb. Văn học.

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét