(Distinguish between auxiliary words and adverbs in Vietnamese)
TS. Đỗ Phương Lâm,
ĐT: 01676.619.619; Email:
dolamdhhp@gmail.com
Địa chỉ: Khoa Đào tạo Thường xuyên, Trường
Đại học Hải Phòng
Từ khóa: chuyển loại, trợ từ, phó từ, hư từ, ngữ
pháp
Tóm tắt:
Trong tiếng Việt, từ không biến đổi
hình thái để biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau mà chủ yếu dựa vào hư từ. Nhờ
có hiện tượng chuyển loại từ, một số lượng từ hữu hạn của tiếng Việt lại có cách
biểu đạt rất phong phú. Chuyển loại từ là hiện tượng một từ có thể đồng thời đảm
nhiệm các vai trò ngữ pháp của các từ loại khác nhau. Cũng chính vì thế mà việc
sử dụng ngôn ngữ và phân tích ngữ pháp trong những trường hợp này không phải
lúc nào cũng rõ ràng. Trong bài viết này, chúng tôi phân tích và lí giải hiện
tượng chuyển loại từ giữa phó từ và trợ từ, hai nhóm hư từ rất dễ nhầm lẫn của
tiếng Việt. Từ đó, chúng tôi đưa ra cách nhận diện và phân biệt chúng.
Abstract:
In Vietnamese, words are not variable
morphological (structural) to denote the different grammatical categories which
are mainly based on the function words. Because of moving word-class, a finite number of words
but a very rich expression. Moving word-class is a phenomenon that a word can
also take on the role of grammar from various categories. It was thus that the
use of language and grammatical analysis in these cases is not always clear. In
this article, we analyze and explain the phenomenon of transition between the
adverb and auxiliary words, the two groups of Vietnamese very easy to confuse.
From there, we provide a way to identify and distinguish them.
NỘI DUNG
Một trong những hiện tượng ngữ pháp phức
tạp của tiếng Việt là hiện tượng chuyển loại từ. Chuyển loại từ là hiện tượng một
từ vốn hoạt động với chức năng của từ loại này lâm thời chuyển sang hoạt động bằng
chức năng của một từ loại khác. Chuyển loại từ không chỉ diễn ra đối với thực từ
mà còn đối với cả hư từ. Nhận biết tính chất từ loại của các thực từ chuyển loại
đã khó, nhận biết các hư từ chuyển loại càng khó hơn. Trong số các hư từ, trợ từ
là từ loại ít có sự cố định về “quân số”. Rất nhiều trợ từ có tính chất lâm thời
và là do các từ loại khác chuyển loại sang. Theo [11, tr. 100], trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên,
1994), “có đến 66 trường hợp được ghi nhận là có sự chuyển loại giữa những từ
thuộc các từ loại khác với trợ từ.” Cũng vì thế việc xác định số lượng chính
xác trợ từ của tiếng Việt là một công việc rất khó.
Trong thực tế, sự chuyển loại giữa trợ
từ với phó từ là rất khó phát hiện. Trong bài viết này, chúng tôi tập trung
miêu tả sự khác biệt về đặc trưng ngữ pháp giữa hai từ loại này và nêu một số
trường hợp cụ thể nhằm đưa ra khả năng phân biệt tính chất từ loại trong những
trường hợp ấy.
1. Chính
vì trợ từ rất gần với phó từ, hay nói khác đi là phó từ luôn tiềm tàng một khả
năng biểu đạt ý nghĩa tình thái cao, cho nên một số nhà nghiên cứu gọi trợ từ bằng
những tên gọi có liên quan đến phó từ như: phụ
từ (Hồ Lê, 1992); phụ từ tận cùng
(Lê Văn Lý, 1972). Ngoài ra, trợ từ còn được gọi bằng nhiều cách khác: tiểu từ (Thompson, 1965; Hoàng Tuệ,
1962;), ngữ khí từ (Bùi Đức Tịnh,
1952), từ đệm (Hữu Quỳnh, 1980; Đái
Xuân Ninh, 1978), hư từ giao tiếp (Panfilov,
1993). Dùng chính xác tên gọi trợ từ có
các tác giả: Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ủy
ban khoa học xã hội (1983), Đinh Văn Đức, 1986; Nguyễn Anh Quế, 1988, Hoàng Phê
(1994), Phạm Hùng Việt (2003), v.v.
2. Trợ
từ chia làm hai loại:
(1) Những từ “thường đứng ở cuối phát
ngôn và thêm vào cho nội dung chính của phát ngôn một hoặc một số ý nghĩa tình
thái nhất định” [11, tr. 11]. Chẳng hạn, à,
ư, hả trong câu nghi vấn; đi, thôi,
mà trong câu mệnh lệnh; mà đấy trong
câu trần thuật.
(2) Những từ “chuyên được dùng để nhấn
mạnh vào ý nghĩa của một bộ phận nào đó trong phát ngôn (bộ phận này có thể là
một từ hay một cụm từ)”. Ví dụ: Chính tôi cũng không biết việc này. Bài toán đó đến học sinh giỏi nhất lớp cũng
chịu. Chị ta may những ba chiếc áo một
lúc. v.v. [11, tr. 11]
Loại trợ từ thứ hai “chuyên được dùng để
nhấn mạnh” sự kiện, “biểu đạt những mối quan hệ có tính chất bộ phận giữa người
nói với nội dung phát ngôn được xác lập với từng bộ phận của phát ngôn” [4, tr.
190]. Trợ từ cho biết thái độ chủ quan của người nói đối với sự tình. Các trợ từ
điển hình như: chính, đích, cả, những,
ngay, quả nhiên, tất nhiên, đương nhiên, bất đắc dĩ, kì thực, hẳn là, chắc là,
có lẽ, v.v. Loại trợ từ này được
không ít tác giả coi là phó từ. Nguyễn Kim Thản gọi đây là “phó từ phụ cho cả câu” [8, tr.350]. Diệp
Quang Ban gọi đây là “phó từ tình thái”
và đối lập với phó từ thông thường (“phó
từ phi tình thái”) [2, tr. 540-546]. Một số tác giả khác cũng nhận xét về đặc trưng tình thái của phó từ. Trong Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ,
2003), những trợ từ này cũng được chú thích từ loại là “p.” (phụ
từ). Ví dụ:
- Việc ấy quyết nhiên
không thành [10,
tr. 816]
- Anh ấy dễ thường
chưa biết [10, tr. 253]
3. Như trên đã trình bày, hiện nay trong giới Việt ngữ học, khuynh
hướng quan niệm phó từ là những từ phụ cho vị từ được khá đông các nhà nghiên cứu
hưởng ứng (Nguyễn Kim Thản, 1963; Ủy ban Khoa học xã hội, 1983, Diệp Quang Ban,
2004; Đào Thanh Lan, 2010; Nguyễn Hồng Cổn, 2003). Theo quan điểm này, phó từ
không thể kết hợp được với danh từ, đại từ mà chỉ có thể kết hợp với động từ,
tính từ. Bên cạnh đó cũng
có quan điểm cho rằng phó từ có thể kết hợp với các đơn vị khác như chủ từ
(danh từ, đại từ); kết hợp trực tiếp với đơn vị ở bậc mệnh đề, câu.
Nguyễn Tài Cẩn đã nêu một số
ví dụ về khả năng dùng ở trước danh từ của phó từ đã, cũng, đều:
(Ngày mai) đã chủ nhật rồi;
(Anh ta) cũng tổ trưởng như tôi;
(Hai cụ) đều 69 tuổi cả. [3, tr. 260]
Ông cho rằng các phó từ
trên “có thể đi kèm với bất kì từ loại nào (danh từ, danh ngữ cũng như động từ, động ngữ,
tính từ, tính ngữ) để dạng thức hóa từ loại đó, giúp từ loại đó có khả năng giữ
một chức vụ cú pháp nào đấy.” [3, tr. 263] Nhưng rất khó mà gọi tên cái chức vụ
cú pháp mà đã, cũng, đều đảm nhiệm là
gì, chủ tố, vị tố, bổ tố, trạng tố hay định tố? (Diệp Quang Ban (2008) gọi
thành phần này là biệt ngữ, về thực
chất cũng chính là trợ từ: bộ phận từ ngữ đặc biệt chêm xen vào câu nói).
Theo chúng tôi, trong các
phát ngôn mà Nguyễn Tài Cẩn dẫn, các từ đã,
cũng, đều không còn hoạt động với tư cách là phó từ mà đã chuyển loại thành
trợ từ. Đây là hiện tượng một số phó từ chuyên dụng (đã, cũng, đều, chỉ, vẫn, v.v.) lâm thời đảm nhiệm vai trò tình thái
của trợ từ. Chúng như một thành phần biệt lập gắn thêm vào, chêm xen vào phát
ngôn. Việc loại bỏ các trợ từ này không làm ảnh hưởng đến nội dung thông báo của
câu mà chỉ ảnh hưởng đến ý nghĩa tình thái của phát ngôn. Ý nghĩa của chúng là
ý nghĩa tình thái: nhấn mạnh sự nhận định và thái độ của người nói.
Trong tất cả các phát ngôn
trên, vị từ “là” đều đã bị tỉnh lược. Sở dĩ vị từ có thể tỉnh lược mà người
nghe không cảm thấy thiếu chính bởi sự có mặt của các trợ từ có ý nghĩa tình
thái này.
4. Một số phó từ hạn định về số lượng, đã hàm chứa sẵn sắc thái đánh
giá nhận định trong nội hàm ý nghĩa của từ nên trong quá trình sử dụng đã chuyển
loại thành các trợ từ. Tuy nhiên, do từ không thay đổi về hình thái nên tính chất
từ loại của từ ở đa số các trường hợp là khó xác định. Hư từ mỗi là một ví dụ điển hình. Mỗi vốn là phó từ “chỉ một phần tử bất kì của một tập hợp những cái cùng loại,
được xét riêng lẻ, nhưng nhằm để qua đó nói chung cho mọi phần tử của tập hợp.”
[10, tr. 640] Ví dụ:
-
Làng nào cũng có nhiều cánh (danh
từ tập hợp), mỗi cánh (danh từ phần tử)
kết bè kết đảng chung quanh một người… (Nam Cao)
Nhưng khi biểu
thị biểu thị ý nghĩa đánh giá ít về số lượng, ý nghĩa duy nhất, không còn gì
khác, mỗi lại đóng vai trò của trợ từ.
Ở trong những trường hợp này, mỗi thường
kết hợp với số từ một đi kèm (mỗi một...). Ví dụ:
- Bà có mỗi
một mống con thôi. Ai chả tưởng: quí hơn vàng. (Nam Cao)
Trong trường hợp
này, mỗi không thể hiện ý nghĩa phần
tử rút ra từ bộ phận (như “mỗi người trong chúng ta”), mà diễn đạt ý nghĩa hạn
định về mặt số lượng, trong đó luôn bao hàm sắc thái biểu cảm. Mỗi có thể kết hợp với các số từ, hoặc
các từ chỉ đơn vị, như: mỗi chiếc..., mỗi
con..., mỗi cái..., v.v.
- ... tôi thấy anh chui vào, một lát sau chui
ra, thấy người khác hẳn, trên người buộc đầy cành lá, mình mặc mỗi chiếc quần đùi. (Nguyễn Huy Thiệp)
Thậm chí, mỗi có thể đứng trước các số từ hoặc
danh từ số nhiều. Lúc này, mỗi biểu
thị sự đánh giá chủ quan của người nói về số lượng được đề cập đến là ít, là chỉ
có vậy không hơn nữa, không còn gì khác nữa. Ví dụ:
- Hay các bác về nhà chúng tôi? Nhà chỉ có mỗi hai vợ chồng son, cũng rộng rãi. (Nguyễn Huy Thiệp)
- Ông Vỹ đông con, nhà nghèo, về mang theo mỗi chục quả tai chua với chai rượu trắng
làm quà. (Nguyễn Huy Thiệp)
- ... trong khu trại tăng gia của huyện đội 67 đã
nhiều năm bị bỏ quên trên bờ thác nước ấy chỉ có mỗi ba cô gái… (Bảo
Ninh)
Trong các ví dụ
vừa dẫn, mỗi đóng vai trò là trợ từ,
làm gia tăng sắc thái biểu cảm, ý nghĩa đánh giá cho nội dung thông báo của
câu. Ở đây, mỗi hoàn toàn có thể lược
bỏ mà không ảnh hưởng đến cấu trúc ngữ pháp của câu.
5. Hiện
tượng nhầm lẫn giữa trợ từ và phó từ cũng khá phổ biến trong các công trình
nghiên cứu về ngữ pháp.
Có trường hợp trợ từ được coi là phó từ. Chẳng hạn, theo đánh giá
của Đào Thanh Lan [5, tr. 49], phó từ còn có thể phụ cho một ngữ đoạn bất kì
(ngữ vị từ, ngữ danh từ, giới ngữ) thậm chí phụ cho một cú (ở đây tương đương với
mệnh đề). Cách nhìn này tương tự với ngữ pháp châu Âu, phó từ
(adverbs) có thể kết hợp và bổ sung ý nghĩa cho một phó từ khác hoặc bổ sung ý
nghĩa cho toàn bộ câu. Để chứng minh, tác giả nêu một số trường hợp các phó từ quả nhiên, đương nhiên, cơ hồ có thể kết
hợp với một cú (cụm chủ - vị), như:
(a) Nhậm được thư ấy liền
nói: quả nhiên Duệ // làm phản rồi.
CN VN
(b) Ngươi // oán hận ta, đương nhiên.
CN VN
(c) Quân bên tả của Chúa// không chống nổi cơ hồ muốn vỡ.
CN VN
Chúng tôi cho rằng, trong
các câu trên (a), (b), (c), quả nhiên,
đương nhiên, cơ hồ hoàn toàn biệt lập với các sự tình được đề cập đến. Các
yếu tố này góp phần thể hiện mục đích
phát ngôn chứ không phải thể hiện nội
dung phát ngôn. Chúng bao hàm những nhận định, đánh giá mang tính chủ quan
của chủ thể phát ngôn và chúng không nằm trong cấu trúc của ngữ vị từ. Chúng đều
là trợ từ chứ không phải phó từ. Bởi vì chúng mang lại những ý nghĩa tình thái
và những tiền giả định như sau:
(a) Duệ làm phản (như dự
đoán của ta)
(b) Ngươi oán hận ta (điều
đó ta đã biết)
(c) Quân bên tả của Chúa
không chống nổi, muốn vỡ (đoán định)
Ngược lại, có những phó từ
đích thực lại được coi là trợ từ. Theo Diệp Quang Ban thì từ chỉ trong các câu dưới đây đều là trợ từ
“nhấn mạnh sự hạn chế về số lượng vật, việc và đứng trước từ, tổ hợp từ cần nhấn
mạnh”. [2, tr. 555]
(d) - Nó chỉ biết chừng ấy thôi;
(e) - Nó chỉ lấy hai quyển sách;
(f) - Nó chỉ thích chơi bóng đá.
Điều này hoàn toàn không phải
khó hiểu vì có một số nhà nghiên cứu đã phát biểu về tính tình thái của phó từ.
Đinh Văn Đức cho rằng: “các từ phụ của động từ và tính từ trong tiếng Việt đều
đồng thời tham gia diễn đạt tính tình thái.” [4, tr. 189] Chính Diệp Quang Ban
trong khi phân loại phó từ cũng đã chia thành hai loại: phó từ tình thái và phó từ
phi tình thái [2, tr. 540]. Vậy thì tại sao từ “chỉ” trong các ví dụ trên không phải phó từ tình thái mà lại gọi nó
là trợ từ? Đối với câu (d), (e) thì ý nghĩa hạn định về số lượng được làm rõ bởi:
“chừng ấy”, “hai”. Nhưng đối với câu (f) mà phân tích rằng chỉ là trợ từ “nhấn mạnh sự hạn chế về số lượng” của hành động “thích chơi bóng đá” thì không có cơ sở.
Thật ra, trong cả 3 câu trên, chỉ có từ “thôi”
ở cuối câu (d) là trợ từ mà thôi.
Trong tiếng Việt còn có một
số từ kiêm phó từ - trợ từ. Phải căn
cứ vào ngữ cảnh mới xác định được tính chất từ loại của chúng. Chẳng hạn như
các từ: chỉ, đã, v.v. trong các ví dụ
dưới đây:
|
Phó từ |
Trợ từ |
|
Nó chỉ biết chừng ấy thôi (ý nghĩa hạn định) |
Chỉ nó mới làm như thế (ý nghĩa nhận định) |
|
Tôi đã xa nhà (ý nghĩa thời gian) |
Ngày mai, tôi đã
xa nhà rồi (ý nghĩa tình thái) |
6. Để có thể dễ dàng phân biệt hai kiểu từ loại này, chúng tôi xác định
những điểm khác biệt cơ bản giữa phó từ và trợ từ.
Về mặt ngữ pháp:
- Phó từ luôn
đi kèm với từ trung tâm, đứng trước hoặc sau liền kề với từ trung tâm; phó từ kết
hợp trực tiếp với từ trung tâm.
- Vị trí của trợ từ khá tự
do: đầu câu, giữa câu hoặc cuối câu. Ví dụ: Tất
nhiên, tôi biết việc đó; Tôi tất
nhiên biết việc đó; Tôi biết việc đó
tất nhiên. Trợ từ không quan hệ trực tiếp với bất kì thành phần nào của
câu, là thành phần có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng tới kết cấu ngữ pháp của
câu.
Về mặt ý nghĩa:
- Trợ từ mang lại sắc thái
ý nghĩa cho toàn bộ câu. Trợ từ giúp biểu lộ thái độ, sự đánh giá, cảm xúc của
người nói trước thực tại được phản ánh.
- Phó từ bổ sung các ý
nghĩa về thời gian, mức độ, phạm vi, phủ định, v. v. cho từ trung tâm (đoản ngữ
hay mệnh đề).
Giải quyết rạch ròi vấn đề chuyển
loại giữa các hư từ sẽ giúp ích cho việc phân tích ngữ pháp vốn đã rất phức tạp
của tiếng Việt. Trong những bài viết khác, chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu sự
chuyển loại phó từ thành liên từ cặp đôi trong các câu ghép có kết từ. Đây cũng
là một vấn đề hết sức lí thú trong khi nghiên cứu về hư từ tiếng Việt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Lê
Biên, 1996. Từ loại tiếng Việt hiện đại, Trường ĐHSP, Hà Nội.
- Diệp
Quang Ban, 2004. Ngữ pháp tiếng Việt,
NXB. Giáo dục, Hà Nội.
- Nguyễn
Tài Cẩn, 1975. Ngữ pháp tiếng Việt, (Tiếng – từ ghép – đoản ngữ, NXB.
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
- Đinh Văn Đức, 1986. Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại). Nxb.
Đại học và THCN, Hà Nội.
- Đào Thanh Lan, 2010. Về từ loại phó từ trong tiếng Việt, Đề
tài NCKH cấp ĐHQG.
- Hoàng
Trọng Phiến, 2008. Từ điển giải
thích hư từ tiếng Việt, NXB. Tri thức.
- Nguyễn Anh Quế, 1988. Hư từ trong tiếng Việt hiện đại,
NXB. Khoa học xã hội.
- Nguyễn
Kim Thản, 1997. Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, NXB.
Giáo dục, Hà Nội.
- Uỷ
ban khoa học xã hội, 1983. Ngữ pháp tiếng Việt, NXB.
KHXH, Hà Nội.
- Viện
ngôn ngữ học, 2003. Từ điển tiếng Việt,
NXB. Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học.
- Phạm
Hùng Việt, 2003. Trợ từ trong tiếng
Việt hiện đại, NXB. KHXH.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét