Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

BÀN VỀ PHÂN LOẠI HƯ TỪ TIẾNG VIỆT

 

BÀN VỀ PHÂN LOẠI HƯ TỪ TIẾNG VIỆT

 

ĐỒNG HOÀNG HƯNG** ĐỖ PHƯƠNG LÂM*

 

**TS; Trường Đại học Hải Phòng, UBND Tp. Hải Phòng

*TS; Trường Đại học Hải Phòng; Email: dolamdhhp@gmail.com

TÓM TẮT: Phân loại hư từ là một trong những vấn đề phức tạp và còn nhiều bất đồng trong nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt. Bài viết này điểm lại các quan điểm tiêu biểu về phân loại hư từ tiếng Việt từ trước đến nay, so sánh sự dị biệt giữa các quan điểm, chỉ ra nguyên nhân của sự phức tạp đó và trên cơ sở phân tích đa tiêu chí (ngữ nghĩa, chức năng cú pháp, vị trí trong đoản ngữ và câu), bài viết đề xuất một cách phân chia hư từ tiếng Việt thành các tiểu loại hợp lý, nhất quán: phụ từ (định từ, phó từ), quan hệ từ (giới từ, liên từ), tình thái từ (trợ từ, tiểu từ, thán từ). Kết quả nghiên cứu góp phần củng cố lý thuyết về hư từ tiếng Việt và có thể phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt.

TỪ KHÓA: hư từ tiếng Việt, phân loại hư từ, từ loại tiếng Việt, phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ

Mở đầu

Trong từ vựng của bất kì một ngôn ngữ nào cũng có sự đối lập giữa thực từ (lexical words/content words) và hư từ (grammatical words/ function words). Đối với các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, hư từ có vai trò đặc biệt quan trọng vì chúng là phương tiện ngữ pháp chủ yếu thể hiện các quan hệ ngữ pháp vai trò mà trong các ngôn ngữ biến hình được đảm nhiệm bởi phụ tố và hình thái biến đổi.

Hư từ chiếm số lượng nhỏ so với thực từ nhưng tần suất hoạt động lại cao hơn rất nhiều. Ở nhiều trường hợp, thực từ có thể dùng từ đồng nghĩa thay thế còn hư từ thì khả năng này rất hạn chế, bởi mỗi hư từ gắn với những sắc thái ngữ pháp và tình thái riêng biệt. Đây là lý do nghiên cứu hư từ có giá trị đặc biệt cả về lý thuyết lẫn thực tiễn dạy học.

Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, phân tích tính: từ không biến đổi hình thái, nên việc xác định tính chất từ loại phải dựa vào ý nghĩa từ vựng và vai trò ngữ pháp trong câu. Do vậy, phân định từ loại tiếng Việt là công việc khó khăn và đến nay vẫn chưa đạt được sự nhất trí cao trong giới nghiên cứu. Sự phức tạp này càng thể hiện rõ ở việc phân chia hư từ thành các tiểu loại.

Bài viết này hướng tới ba mục tiêu nghiên cứu: (1) tổng quan và so sánh các quan điểm tiêu biểu về phân loại hư từ tiếng Việt; (2) phân tích nguyên nhân của sự bất đồng và phức tạp trong việc phân loại; (3) trên cơ sở đó đề xuất một cách phân chia hư từ tiếng Việt thành các tiểu loại nhất quán, có cơ sở lý luận rõ ràng.

1. Cơ sở lý luận

1.1. Khái niệm hư từ

Thuật ngữ "thực từ" (nội dung từ) và "hư từ" (hư tự 虚字) được vay mượn từ ngữ pháp học Hán ngữ. Hàm nghĩa "thực" (có nghĩa thực) và "hư" (rỗng nghĩa, không có nghĩa thực) của tên gọi này thực ra không bao quát được hết tính chất của hai nhóm từ vựng. Một số hư từ vẫn giữ dấu vết nghĩa từ vựng gốc (ví dụ: chỉ vốn là động từ "trỏ vào"; bằng vốn là tính từ "ngang bằng"), trong khi một số thực từ lại có ý nghĩa rất trừu tượng. Do vậy, ranh giới thực/hư không hoàn toàn là ranh giới về ý nghĩa từ vựng.

Theo cách hiểu phổ thông và phù hợp nhất, thực từ có giá trị biểu đạt ý nghĩa từ vựng chân thực, có thể làm trung tâm của đoản ngữ và làm thành phần chính của câu; còn hư từ có giá trị thể hiện các quan hệ ngữ pháp, bổ sung ý nghĩa ngữ pháp và tình thái cho phát ngôn, thường không làm trung tâm đoản ngữ hay thành phần chính của câu một cách độc lập. Cách phân định này lấy cả tiêu chí ngữ nghĩa lẫn tiêu chí chức năng cú pháp làm cơ sở, do đó toàn diện hơn so với cách tiếp cận thuần ý nghĩa hay thuần hình thức.

1.2. Các tiêu chí phân định từ loại

Việc phân định từ loại tiếng Việt trong lịch sử nghiên cứu ngữ pháp Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiều tiêu chí khác nhau. Có thể tổng kết ba hướng tiếp cận chính như sau:

(a) Hướng dựa vào ý nghĩa khái quát: xuất phát từ ngữ pháp logic truyền thống phương Tây, phân loại từ theo phạm trù ý nghĩa: "sự vật" = danh từ, "hành động" = động từ, "tính chất" = tính từ... Hướng này được Aubaret, Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân theo đuổi. Hạn chế của hướng này là tiêu chí ý nghĩa mang tính chủ quan, không xác định được cụ thể, khó áp dụng cho nhiều từ giống nhau về ý nghĩa khái quát nhưng khác nhau về hành vi ngữ pháp, hoặc những từ có nghĩa trừu tượng và chức năng kiêm nhiệm.

(b) Hướng dựa vào cấu trúc đoản ngữ: do Nguyễn Tài Cẩn (1975) đề xuất, lấy cấu trúc đoản ngữ làm đơn vị cơ sở. Từ loại của một từ được xác định bởi vị trí nó đảm nhiệm trong đoản ngữ: làm trung tâm (thực từ) hay làm thành tố phụ (hư từ). Hướng này rõ ràng về tiêu chí hình thức nhưng gặp khó khăn khi xử lý thán từ (không tham gia cấu trúc đoản ngữ) và các trường hợp kiêm loại.

(c) Hướng đa tiêu chí: kết hợp nhiều tiêu chí  ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp. Hướng này được Đinh Văn Đức (1986), Lê Biên (1999), Diệp Quang Ban (2004), Đỗ Phương Lâm (2014) và nhiều nhà nghiên cứu hiện đại quan tâm. Đây là hướng có tính toàn diện nhất nhưng đòi hỏi sự nhất quán và rõ ràng trong việc áp dụng từng tiêu chí.

1.3. Đặc trưng của hư từ tiếng Việt

Hư từ tiếng Việt có một số đặc trưng cơ bản sau: (1) Không biểu đạt ý nghĩa từ vựng chân thực (hoặc ý nghĩa từ vựng đã bị mờ nhạt đến mức không còn tự mình biểu đạt được sự vật, sự việc, tính chất); (2) Chuyên biểu hiện các quan hệ ngữ pháp, ý nghĩa ngữ pháp và/hoặc ý nghĩa tình thái; (3) Không làm trung tâm đoản ngữ một cách độc lập; (4) Số lượng hữu hạn, nhưng tần suất sử dụng cao; (5) Phần lớn có nguồn gốc từ thực từ bị hư hóa (grammaticalization)  đây là xu hướng phổ biến của mọi ngôn ngữ trên thế giới.

Quá trình hư hóa (grammaticalization) là cơ chế chủ yếu tạo ra hư từ trong tiếng Việt. Nhiều thực từ trong lịch sử đã dần mất nghĩa từ vựng, chuyển sang chức năng ngữ pháp. Ví dụ: của (danh từ "tài sản") → giới từ sở hữu; bằng (tính từ "bằng phẳng") → giới từ so sánh, phương tiện; ra/lên/xuống (động từ chuyển động) → phó từ hướng. Chính quá trình này tạo ra lớp hư từ kiêm (hư từ đồng thời có thể làm thực từ tùy ngữ cảnh), gây khó khăn lớn cho việc phân loại.

2. Tổng quan các quan điểm phân loại hư từ tiếng Việt

2.1. Quan điểm dựa vào cấu trúc đoản ngữ

Nguyễn Tài Cẩn (1975) dựa vào đoản ngữ để phân định từ loại, chia từ tiếng Việt thành 3 nhóm lớn: (i) Thán từ  đối lập với tất cả khối từ còn lại do "không có một mối liên quan nào đối với tổ chức của đoản ngữ"; (ii) Thực từ  những từ loại có khả năng làm trung tâm đoản ngữ, gồm: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ; (iii) Hư từ  những từ loại chỉ có khả năng làm thành tố phụ đoản ngữ (phó từ) hoặc kết hợp với đoản ngữ (quan hệ từ, trợ từ).

Cách phân loại của Nguyễn Tài Cẩn có ưu điểm là tiêu chí rõ ràng, dựa trên hành vi hình thức. Tuy nhiên, tiêu chí "đoản ngữ" chưa đủ để bao quát mọi trường hợp: một số từ có thể đảm nhiệm cả chức năng trung tâm lẫn thành tố phụ tùy ngữ cảnh (hiện tượng chuyển loại); và bản thân việc xác định "đoản ngữ" trong tiếng Việt cũng còn nhiều tranh luận.

2.2. Quan điểm của Uỷ ban Khoa học xã hội (1983)

Sách Ngữ pháp tiếng Việt của Uỷ ban Khoa học xã hội (1983, 68-71) đối lập đặc điểm có "nghĩa thực" - "nghĩa hư" và "có thể dùng làm phần đề và phần thuyết trong một nòng cốt câu" để chia từ tiếng Việt thành bốn nhóm: (i) Thực từ: danh từ, động từ, tính từ; (ii) Hư từ: phụ từ và kết từ (quan hệ từ); (iii) Đại từ; (iv) Trợ từ và cảm từ.

Điểm đáng chú ý là công trình này xếp đại từ, trợ từ và cảm từ thành các nhóm trung gian, không thuộc hẳn vào thực từ hay hư từ. Cách phân chia này phản ánh sự lưỡng phân vốn có trong thực tế ngôn ngữ, nhưng thiếu nhất quán trong việc lý giải vị trí của những nhóm "trung gian" đó.

2.3. Quan điểm đa tiêu chí  Đinh Văn Đức (1986)

Đinh Văn Đức (1986) trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại) căn cứ vào tập hợp các tiêu chuẩn: ý nghĩa, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của từ, chia từ tiếng Việt thành "ba tập hợp cơ bản": (i) Thực từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ (tuy nhiên đại từ được xếp ở vị trí trung gian giữa thực từ và hư từ); (ii) Hư từ: gồm hư từ từ pháp (phó từ) và hư từ cú pháp (quan hệ từ); (iii) Tình thái từ: gồm tiểu từ và trợ từ (bao gồm thán từ).

Đinh Văn Đức tách tình thái từ ra khỏi hư từ do "có một đặc trưng riêng về bản chất ngữ pháp: tình thái từ không có ý nghĩa từ vựng và cũng không có ý nghĩa ngữ pháp". Sự tách biệt này là một đóng góp quan trọng, nhưng tiêu chí "không có ý nghĩa ngữ pháp" của tình thái từ cần được hiểu chính xác hơn: thực ra tình thái từ vẫn có ý nghĩa  đó là ý nghĩa tình thái (modal meaning), một loại ý nghĩa khác với ý nghĩa quan hệ ngữ pháp của phụ từ và quan hệ từ.

2.4. Quan điểm của Hoàng Văn Thung (1998)

Hoàng Văn Thung (1998) kết hợp hướng phân loại dựa vào cấu trúc đoản ngữ và dựa vào chức năng cú pháp, chia từ tiếng Việt thành hai nhóm lớn: (i) Thực từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ; (ii) Hư từ: phụ từ (gồm định từ phụ cho danh từ và phó từ phụ cho vị từ), kết từ, tiểu từ (gồm trợ từ và tình thái từ). Theo đó, Hoàng Văn Thung xếp tiểu từ (trợ từ và tình thái từ) vào hư từ, đặt thán từ ra ngoài.

Điểm tiến bộ của cách phân loại này là đã đưa cả tình thái từ vào trong hệ thống hư từ  thể hiện cách nhìn toàn diện hơn về chức năng ngữ pháp. Tuy nhiên, trong khi đưa tiểu từ vào hư từ, tác giả lại đặt thán từ ở vị trí ngoài cả hai nhóm lớn, điều này gây ra sự không thống nhất trong hệ thống.

2.5. Quan điểm của Lê Biên (1999)

Lê Biên (1999) áp dụng tập hợp tiêu chí về nghĩa–ngữ pháp để phân chia từ loại, chia vốn từ tiếng Việt thành ba mảng lớn với sự kế thừa sâu sắc từ Đinh Văn Đức: (i) Thực từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ; (ii) Hư từ: phụ từ (phụ cho thể từ và vị từ), quan hệ từ; (iii) Tình thái từ: trợ từ, tiểu từ và thán từ. Điểm khác biệt so với Đinh Văn Đức là Lê Biên xếp thán từ vào tình thái từ thay vì tiểu từ.

2.6. Quan điểm của Nguyễn Hồng Cổn (2003)

Nguyễn Hồng Cổn (2003) chủ yếu căn cứ vào chức vụ cú pháp và khả năng kết hợp của từ đã phân chia từ tiếng Việt thành ba nhóm: (i) Nhóm thứ nhất có khả năng làm trung tâm đối tố (danh từ, đại từ) và vị tố (động từ, tính từ); (ii) Nhóm thứ hai làm thành tố phụ của đối tố (định từ, chỉ từ) và vị tố (tiền phó từ, hậu phó từ); (iii) Nhóm thứ ba là các từ liên kết (liên từ, giới từ) và từ tình thái (trợ từ, tiểu từ).

Cách phân loại này không dùng thuật ngữ "hư từ" và "thực từ" một cách trực tiếp nhưng thực chất hư từ chính là nhóm thứ hai và thứ ba gộp lại. Đây là cách tiếp cận chức năng nhất quán, nhưng tác giả đã vô tình loại bỏ thán từ trong khi phân loại, do từ loại này không có cả hai khả năng làm trung tâm đối tố/vị tố hay làm thành tố phụ.

2.7. Quan điểm của Diệp Quang Ban (2004)

Diệp Quang Ban (2004) chủ yếu kế thừa kết quả phân loại truyền thống nhưng có hai điểm đáng chú ý: xếp đại từ vào nhóm trung gian giữa thực từ và hư từ; tách định từ thành hai nhóm  mạo từ (tương đương định từ thông thường) và chỉ định từ (nằm trong đại từ). Kết quả: (i) Thực từ: danh từ (và loại từ), số từ, tính từ, động từ, đại từ; (ii) Hư từ: mạo từ, phó từ, quan hệ từ, tiểu từ tình thái (ngữ thái từ và trợ từ), thán từ. Điểm tiến bộ là hệ thống hư từ của ông bao quát đầy đủ hơn (gồm cả thán từ), nhưng thuật ngữ "mạo từ" cho tiếng Việt còn gây tranh cãi.

2.8. Quan điểm của Nguyễn Anh Quế (1988)

Nguyễn Anh Quế (1988) trong cuốn Hư từ trong tiếng Việt hiện đại đối lập thực từ và hư từ theo hai tiêu chuẩn: ý nghĩa từ vựng và chức vụ ngữ pháp. Ông đề nghị một cách phân định hư từ gồm hai bước: "bước 1, dựa vào tổ chức đoản ngữ và bước 2, dựa vào chức năng cú pháp". Hư từ được chia thành ba nhóm: (i) Nhóm hư từ làm thành tố phụ trong đoản ngữ  phó từ; (ii) Nhóm hư từ nằm trong đoản ngữ nhưng không làm thành tố phụ  giới từ, liên từ và "các hư từ đặc biệt" (là, thì, kẻo, huống, phương chi, vả...); (iii) Nhóm hư từ nằm ngoài đoản ngữ  trợ từ và phụ từ (gồm ngữ khí từ và cảm thán từ).

Công trình của Nguyễn Anh Quế là một trong những chuyên luận hệ thống nhất về hư từ tiếng Việt, nhưng cách phân chia thành ba nhóm theo vị trí trong đoản ngữ làm cho cấu trúc phân loại khó tổng quát hóa, và thuật ngữ "hư từ đặc biệt" gây khó hiểu.

2.9. Quan điểm của Đào Thanh Lan (2007)

Đào Thanh Lan (2007) trong Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia "Khảo sát đặc điểm hư từ có nguồn gốc tiếng Hán trong tiếng Việt hiện đại" cho rằng "hư từ là từ không biểu hiện ý nghĩa từ vựng" và phân thành: (i) Phụ từ: bổ sung ý nghĩa phụ cho thực từ, gồm định từ (phụ cho danh từ) và phó từ (phụ cho vị từ); (ii) Kết từ/quan hệ từ: kết nối các thực từ, gồm liên từ (quan hệ liên hợp) và giới từ (quan hệ chính phụ). Cách hiểu này không phân biệt rạch ròi hư từ với tình thái từ và đã loại bỏ tình thái từ ra khỏi hệ thống khảo sát.

2.10. Quan điểm của Hoàng Trọng Phiến (2008)

Hoàng Trọng Phiến (2008) trong Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt quan niệm: "Hư từ lấy việc biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp làm chính, không độc lập làm thành phần câu, không làm trung tâm cụm từ, ngữ đoạn". Ông chia hư từ thành 10 tiểu loại: đại từ, động từ tình thái, giới từ, liên từ, ngữ khí từ, phó từ, quán ngữ, thán từ, trợ từ, tiểu từ.

Hệ thống của Hoàng Trọng Phiến là đầy đủ nhất và có tính thực dụng cao vì được gắn với mô tả từ điển. Tuy nhiên, tác giả không nêu các tiêu chí cụ thể để phân chia hư từ thành các tiểu loại, dẫn đến một số vấn đề: (i) Chưa phân định rạch ròi giữa từ với ngữ (quán ngữ là cụm từ cố định, không phải từ đơn); (ii) Chưa phân biệt ngữ khí từ với thán từ và trợ từ; (iii) Một số động từ có thể làm trung tâm ngữ đoạn như bị, được, có cũng được xếp vào hư từ  điều này không phù hợp với tiêu chí của chính tác giả.

3. Nhận xét tổng kết và phân tích nguyên nhân

3.1. Bảng tổng kết các quan điểm phân loại hư từ tiếng Việt

Dựa trên tổng quan trên, bảng dưới đây hệ thống hóa các quan điểm phân loại hư từ tiếng Việt của các tác giả tiêu biểu:

Bảng 1. Các quan điểm phân chia hư từ tiếng Việt

Tác giả (năm)

Tiêu chí phân loại

Hư từ bao gồm

Nhóm trung gian / loại trừ

Nguyễn Tài Cẩn (1975)

Cấu trúc đoản ngữ

phụ từ (phó từ), quan hệ từ, trợ từ

thán từ (loại trừ)

UBKHXH (1983)

Nghĩa thực/hư + chức vụ cú pháp

phụ từ, kết từ

đại từ; trợ từ, cảm từ (trung gian)

Đinh Văn Đức (1986)

Ý nghĩa + kết hợp + chức vụ

phụ từ (hư từ từ pháp), quan hệ từ (hư từ cú pháp)

tình thái từ tách ra thành nhóm riêng; đại từ trung gian

Hoàng Văn Thung (1998)

Đoản ngữ + chức năng cú pháp

phụ từ (định từ, phó từ), kết từ, tiểu từ (trợ từ, tình thái từ)

thán từ (loại trừ)

Nguyễn Anh Quế (1988)

Vị trí trong đoản ngữ + chức năng

phó từ, giới từ, liên từ, các "hư từ đặc biệt", trợ từ, phụ từ (ngữ khí từ, cảm thán từ)

(không phân nhóm trung gian)

Lê Biên (1999)

Ý nghĩa + kết hợp + chức vụ

phụ từ, quan hệ từ

tình thái từ (trợ từ, tiểu từ, thán từ) tách thành nhóm riêng

Nguyễn Hồng Cổn (2003)

Chức vụ cú pháp + kết hợp

định từ, chỉ từ, phó từ, quan hệ từ (liên từ, giới từ), từ tình thái (trợ từ, tiểu từ)

thán từ (bị loại trừ do không vào nhóm nào)

Diệp Quang Ban (2004)

Ý nghĩa + kết hợp + chức vụ

mạo từ, phó từ, quan hệ từ, tiểu từ tình thái (ngữ thái từ, trợ từ), thán từ

đại từ (trung gian)

Đào Thanh Lan (2007)

Ý nghĩa từ vựng + kết hợp

phụ từ (định từ, phó từ), kết từ (liên từ, giới từ)

tình thái từ loại trừ khỏi khảo sát

Hoàng Trọng Phiến (2008)

Nghĩa ngữ pháp + chức vụ

đại từ, động từ tình thái, giới từ, liên từ, ngữ khí từ, phó từ, quán ngữ, thán từ, trợ từ, tiểu từ

(bao gồm cả ngữ, gây nhập nhằng)

 

3.2. Những điểm nhất trí

Dù có nhiều bất đồng, điểm qua các quan điểm phân loại, ta thấy giới nghiên cứu đạt được sự nhất trí tương đối cao ở một số điểm: (1) danh từ, động từ, tính từ đều thuộc thực từ; (2) phó từ (phụ từ) chuyên bổ nghĩa cho động từ và tính từ trong đoản ngữ thuộc hư từ; (3) quan hệ từ (giới từ, liên từ) đảm nhiệm chức năng liên kết và biểu thị quan hệ ngữ pháp thuộc hư từ. Đây là "vùng lõi" ổn định của hệ thống hư từ tiếng Việt.

3.3. Những điểm bất đồng và nguyên nhân

Sự phức tạp trong việc phân loại hư từ tiếng Việt tập trung ở một số điểm sau:

Thứ nhất, vị trí của đại từ. Đại từ có tính chất trung gian: về mặt ý nghĩa nó có thể thay thế thực từ, nhưng về khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp nó lại không làm trung tâm đoản ngữ theo đúng nghĩa. Chính vì thế một số tác giả xếp đại từ vào thực từ (Đinh Văn Đức, Lê Biên), số khác xếp vào trung gian (UBKHXH 1983, Diệp Quang Ban) hoặc vào hư từ (Nguyễn Hồng Cổn).

Thứ hai, vị trí của tình thái từ (trợ từ, tiểu từ). Đây là nhóm từ biểu thị ý nghĩa tình thái  một loại ý nghĩa khác biệt với cả ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa quan hệ ngữ pháp. Chính sự đặc thù này khiến các nhà nghiên cứu phân vân: xếp vào hư từ (Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Văn Thung, Diệp Quang Ban), tách thành nhóm riêng (Đinh Văn Đức, Lê Biên), hay loại trừ khỏi hệ thống khảo sát (Đào Thanh Lan).

Thứ ba, vị trí của thán từ. Thán từ không tham gia cấu trúc đoản ngữ, không làm thành phần câu, và thực ra có chức năng gần với tình thái từ  biểu thị thái độ, cảm xúc của người nói. Tuy nhiên, nhiều tác giả đặt nó ở vị trí riêng biệt hoặc loại trừ khỏi hư từ.

Thứ tư, hiện tượng kiêm loại (hư từ kiêm). Nhiều hư từ trong tiếng Việt có thể đảm nhiệm nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau tùy ngữ cảnh. Ví dụ: chỉ (phó từ hạn định hoặc trợ từ đánh giá số lượng), những (phó từ số nhiều hoặc trợ từ đánh giá lượng vượt kỳ vọng), đến (động từ hoặc trợ từ đánh giá mức độ). Hiện tượng kiêm loại này là hệ quả tự nhiên của quá trình hư hóa chưa hoàn toàn và là nguyên nhân chính gây ra sự phân loại khác biệt giữa các nhà nghiên cứu.

Thứ năm, sự thiếu nhất quán trong thuật ngữ. Cùng một nhóm từ có thể được gọi bằng nhiều tên khác nhau: phụ từ / phó từ / trạng từ; kết từ / quan hệ từ / liên từ+giới từ; tiểu từ tình thái / ngữ thái từ / ngữ khí từ. Điều này gây khó khăn trong việc đối chiếu và nhận thức hệ thống.

4. Đề xuất phân loại hư từ tiếng Việt

4.1. Nguyên tắc phân loại

Trên cơ sở phân tích các quan điểm trên, chúng tôi đề xuất cách phân loại hư từ tiếng Việt theo các nguyên tắc sau: (1) Áp dụng đồng thời ba tiêu chí: (a) ý nghĩa ngữ pháp/tình thái, (b) chức năng cú pháp trong đoản ngữ và câu, (c) khả năng kết hợp; (2) Phân biệt rõ ba loại ý nghĩa không thực từ: ý nghĩa quan hệ ngữ pháp (của phụ từ và quan hệ từ), ý nghĩa tình thái đánh giá (của tình thái từ), và ý nghĩa biểu cảm/cảm thán (của thán từ); (3) Bao quát đầy đủ các nhóm từ không phải thực từ, kể cả thán từ; (4) Nhất quán về hệ thống thuật ngữ.

4.2. Đề xuất phân loại

Theo quan điểm của chúng tôi, hệ thống hư từ tiếng Việt nên được phân chia thành ba nhóm lớn như sau:

Nhóm I: Phó từ (từ bổ nghĩa cho từ trung tâm trong đoản ngữ)

Phó từ là những hư từ chuyên làm thành tố phụ trong đoản ngữ, bổ sung các ý nghĩa ngữ pháp bổ sung cho từ trung tâm (danh từ, động từ, tính từ). Phó từ bao gồm hai tiểu nhóm:

- Phó danh từ (là phó từ của danh từ / mạo từ): bổ nghĩa cho danh từ trong đoản ngữ danh từ. Gồm các từ như: những, các, mọi, mỗi, từng (chỉ số nhiều và phân phối), một, cái, con, cái... (loại từ), đây, đó, kia, ấy... (chỉ từ). Phó danh từ đứng trước hoặc sau danh từ trung tâm theo quy luật riêng của đoản ngữ danh từ.

- Phó thuật từ (Phó từ của vị từ): bổ nghĩa cho động từ và tính từ trong đoản ngữ động từ hoặc tính từ. Gồm nhiều tiểu nhóm theo ý nghĩa ngữ pháp: phó từ chỉ thời–thể (đã, đang, sẽ, vừa, mới, từng, hay...), phó từ chỉ mức độ (rất, khá, hơi, cực, vô cùng...), phó từ chỉ phủ định (không, chẳng, chưa...), phó từ chỉ hướng (ra, vào, lên, xuống, sang, qua...), phó từ chỉ kết quả (được, mất...), phó từ chỉ tần suất (thường, hay, luôn, ít...).

Nhóm II: Quan hệ từ (từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các đơn vị trong cấu trúc câu)

Quan hệ từ là những hư từ không làm thành tố trong đoản ngữ mà đứng ở vị trí liên kết giữa các đoản ngữ, mệnh đề hoặc câu, đồng thời biểu thị kiểu quan hệ ngữ pháp giữa chúng. Quan hệ từ bao gồm hai tiểu nhóm:

- Giới từ (giới thiệu từ): dẫn nhập thành tố bổ ngữ, biểu thị quan hệ chính–phụ. Gồm các từ: ở, tại, vào, ra, từ, đến, về, cho, của, bằng, với, về, theo, đối với, căn cứ vào... Giới từ đứng trước danh ngữ và biến danh ngữ đó thành một thành phần phụ (phụ ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ).

- Liên từ (liên kết từ): kết nối hai thành phần cú pháp đẳng lập hoặc chính phụ, biểu thị quan hệ liên hợp (và, hay, hoặc, cũng, vừa...vừa), quan hệ tương phản (nhưng, song, tuy...nhưng), quan hệ nhân quả (vì...nên, do...mà, bởi...cho nên), quan hệ điều kiện–kết quả (nếu...thì, hễ...thì), quan hệ nhượng bộ (tuy/dù/dẫu...nhưng), quan hệ mục đích (để, cho)...

Nhóm III: Trợ từ (từ biểu thị ý nghĩa tình thái và cảm xúc, hoạt động ở tầng câu/phát ngôn)

Trợ từ là những hư từ không làm thành phần của đoản ngữ mà hoạt động ở tầng câu, bổ sung ý nghĩa tình thái  thái độ, đánh giá, nhấn mạnh, cảm xúc của người nói đối với nội dung phát ngôn. Trợ từ bao gồm hai tiểu nhóm:

- Trợ từ đánh giá (trợ thán từ, nhấn mạnh từ): nhấn mạnh, đánh giá về số lượng, mức độ, tính chất của một thành phần câu. Gồm các từ: cả, đến, những, chính, ngay, ngay cả, tới, hẳn, chỉ, duy, độc, mỗi, trần... Trợ từ thường đứng liền kề với thành phần được nhấn mạnh và hoạt động ở tầng câu.

- Trợ từ tình thái (ngữ thái từ): biểu thị thái độ tình thái tổng thể của người nói đối với toàn bộ nội dung phát ngôn hoặc đối với người nghe. Trợ từ tình thái được phân thành ba loại: (1) Trợ từ cuối câu (à, ư, nhỉ, nhé, đấy, thôi, chứ, mà, đâu, cơ...) biểu thị ngữ điệu hỏi, cầu khiến, xác nhận, nghi ngờ; (2) Trợ từ tình thái bình luận (hình như, dường như, chắc, có lẽ, thật ra...) biểu thị mức độ xác tín của người nói; (3) Trợ từ cảm thán (thường gọi là thán từ) biểu thị trực tiếp cảm xúc hoặc phản ứng của người nói, không tham gia cấu trúc cú pháp của câu mà đứng độc lập hoặc đứng đầu câu, như: ôi, ồ, ôi chao, trời ơi, ừ, vâng, dạ,...

Bảng 2. Đề xuất phân chia hư từ tiếng Việt thành tiểu loại

Nhóm lớn

Tiểu loại

Chức năng chính

Ví dụ

Nhóm I Phó từ

Phó danh từ

Bổ nghĩa cho danh từ trong đoản ngữ danh từ

những, các, mọi, mỗi, từng, đây, đó, kia, cái, con

Phó thuật từ

Bổ nghĩa cho động từ/tính từ trong đoản ngữ vị từ

đã, đang, sẽ, rất, không, ra, vào, được, thường...

Nhóm II Quan hệ từ

Giới từ

Dẫn nhập thành tố bổ ngữ, biểu thị quan hệ chính–phụ

ở, tại, từ, đến, cho, của, bằng, với, theo, về, đối với

Liên từ

Kết nối các thành phần đẳng lập hoặc chính phụ

và, hay, nhưng, vì...nên, nếu...thì, tuy...nhưng, để

Nhóm III Trợ từ

Trợ từ đánh giá

Nhấn mạnh, đánh giá thành phần câu về lượng/mức độ

cả, đến, những, chính, ngay, chỉ, duy, mỗi, hẳn

Trợ từ tình thái

Biểu thị thái độ tình thái của người nói với toàn phát ngôn

à, ư, nhỉ, nhé, thôi, chứ, mà, chắc, có lẽ, hình như

 

4.3. Xử lý một số trường hợp đặc biệt

(a) Đại từ: Theo quan điểm của chúng tôi, đại từ thuộc thực từ  nó có thể làm trung tâm đoản ngữ và làm thành phần chính trong câu (chủ ngữ, bổ ngữ). Tuy nhiên, do không có ý nghĩa từ vựng chỉ sự vật cụ thể mà chỉ "trỏ vào" đối tượng trong ngữ cảnh (deixis), đại từ có tính trung gian rõ rệt. Khi đại từ chuyển sang chức năng xưng hô (anh, chị, em, ông, bà, con, cháu...), nó hoạt động như tình thái từ xã hội, không còn là thực từ thực thụ. Vì vậy, cần xác định vị trí từ loại của đại từ trong từng ngữ cảnh cụ thể.

(b) Hư từ kiêm: Đối với những từ vừa có thể là thực từ vừa có thể là hư từ (chỉ, được, mất, ra, lên...), cách xử lý hợp lý nhất là xác định chức năng cụ thể của từ trong từng ngữ cảnh thay vì dán nhãn từ loại cố định. Điều này phản ánh đúng bản chất của tiếng Việt như ngôn ngữ đơn lập: từ loại là thuộc tính ngữ cảnh, không phải đặc trưng tuyệt đối của từ.

(c) Quán ngữ và thành ngữ: Quán ngữ (nói chung, tất nhiên, thật ra, thành thử...) là những cụm từ cố định với chức năng gần với tiểu từ tình thái. Chúng không phải là từ đơn nên không thuộc hệ thống từ loại, nhưng cần được xem xét trong nghiên cứu hư từ như những đơn vị bổ sung ý nghĩa tình thái cho phát ngôn.

Kết luận

Vấn đề phân loại hư từ tiếng Việt cho đến nay vẫn chưa đạt được sự thống nhất, phản ánh sự phức tạp khách quan của hệ thống ngữ pháp tiếng Việt cũng như những hạn chế trong lý luận phân loại. Qua tổng quan các quan điểm tiêu biểu, bài viết rút ra một số nhận xét:

(1) Sự nhất trí trong giới nghiên cứu chỉ đạt được ở "vùng lõi" của hư từ gồm phó từ và quan hệ từ; các nhóm đại từ, tình thái từ và thán từ còn nhiều bất đồng do tính chất đặc thù và kiêm loại của chúng.

(2) Nguyên nhân sâu xa của sự phức tạp là: (a) tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, từ không biến đổi hình thái, nên từ loại mang tính ngữ cảnh; (b) hư từ tiếng Việt có quá trình hư hóa chưa hoàn tất ở nhiều từ, tạo ra lớp hư từ kiêm; (c) thiếu nhất quán trong thuật ngữ giữa các tác giả.

(3) Đề xuất phân loại ba nhóm Phó từ (phó danh từ, phó thuật từ), quan hệ từ (giới từ, liên từ) và tình thái từ (trợ từ, tiểu từ, thán từ)  là cách phân chia có tính hệ thống, nhất quán và bao quát nhất, dựa trên đa tiêu chí: ý nghĩa ngữ pháp/tình thái, chức năng trong đoản ngữ và câu, khả năng kết hợp.

Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ lý thuyết về hư từ tiếng Việt, đồng thời có thể phục vụ trực tiếp cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt, đặc biệt là dạy tiếng Việt cho người nước ngoài  những người cần có được bức tranh hệ thống và nhất quán về hư từ tiếng Việt.

 

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb. Đại học và THCN, Hà Nội.

2. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại, viết bổ sung), Nxb. ĐH Quốc gia Hà Nội.

3. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

4. Đào Thanh Lan (2007), Khảo sát đặc điểm hư từ có nguồn gốc tiếng Hán trong tiếng Việt hiện đại, Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia.

5. Đỗ Phương Lâm (2014), Hư từ Hán Việt trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

6. Hoàng Trọng Phiến (2008), Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt, Nxb. Tri thức, Hà Nội.

7. Hoàng Văn Thung, Diệp Quang Ban (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

8. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, Nxb. KHXH, Hà Nội.

9. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

10. Lê Đình Khẩn (2001), "Hư từ gốc Hán và cách thức Việt hóa", Ngôn ngữ đời sống, tr. 19-24.

11. Nguyễn Anh Quế (1988), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

12. Nguyễn Đức Dân (1984), "Ngữ nghĩa các từ hư, định hướng nghĩa của từ", Ngôn ngữ, số 4, tr. 21-30.

13. Nguyễn Hồng Cổn (2003), "Về vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt", Ngôn ngữ, số 2.

14. Nguyễn Kim Thản (1997), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

15. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng. Từ ghép. Đoản ngữ, Nxb. Đại học và THCN, Hà Nội.

16. Nguyễn Tài Cẩn (2000), Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb. ĐHQG Hà Nội.

17. Nguyễn Văn Chính (2011), "Vai trò của hư từ tiếng Việt trong việc hình thành thông báo phát ngôn", Tạp chí Ngôn ngữ.

18. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

19. Phạm Thị Hồng Trung (2003), Khảo sát hoạt động chức năng của một số hư từ có nguồn gốc tiếng Hán trong tiếng Việt hiện đại, Luận văn thạc sĩ, ĐHKHXH&NV Hà Nội.

20. Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (1983), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. KHXH, Hà Nội.

21. Vũ Đức Nghiệu (2006), "Hư từ tiếng Việt thế kỉ XV trong Quốc âm thi tập và Hồng Đức quốc âm thi tập", Ngôn ngữ, số 12, tr. 1-14.

 

Tiếng Hán

22. Kim Lập Hâm 金立鑫 (2005, chủ biên), 对外汉语教学虚词辨析, 北京大学出版社.

23. Lã Thúc Tương 吕叔湘 và Chu Đức Hy 朱德熙 (1951), Ngữ pháp tu từ giảng thoại 语法修辞讲话, Bắc Kinh.

24. Mã Chân 马真 (2004), 现代汉语虚词研究方法论, Thương vụ ấn thư quán.

25. Mã Kiến Trung 马建忠 (1898), Mã thị văn thông 马氏文通, Thương vụ ấn thư quán.

26. Nhiều tác giả (1956), Tạm nghĩ Hán ngữ giáo học ngữ pháp hệ thống 暂拟汉语教学语法系统, Nhân dân giáo dục xuất bản xã.

27. Tào Lệ Phương 曹丽芳 (1997), 现代汉语虚词研究的现状刍议, 镇江师专学报 (社会科学版).

 

On the Classification of Function Words in Vietnamese

Abstract: The classification of function words (hư từ) remains one of the most complex and contested issues in Vietnamese grammar research. This paper reviews major perspectives on the classification of Vietnamese function words, compares their agreements and disagreements, analyzes the sources of complexity, and proposes a systematic three-group classification based on multi-criteria analysis (grammatical/modal meaning, syntactic function in phrases and clauses, and combinatory possibilities): (I) auxiliary words (determiners and adverbs), (II) relational words (prepositions and conjunctions), and (III) modal words (particles, modal particles, and interjections). The findings contribute to the theory of Vietnamese function words and can serve as a reference for Vietnamese language pedagogy.

Keywords: Vietnamese function words, classification of function words, word classes, auxiliary words, relational words, modal words

 

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2026

Ý NGHĨA TÌNH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CỦA NHÓM TRỢ TỪ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TRONG TIẾNG VIỆT

 

Ý NGHĨA TÌNH THÁI VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG

CỦA NHÓM TRỢ TỪ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TRONG TIẾNG VIỆT

ĐỖ PHƯƠNG LÂM*

*TS; Trường Đại học Hải Phòng; Email: dolamdhhp@gmail.com

TÓM TẮT: Trong tiếng Việt, trợ từ là một trong những hư từ quan trọng dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái, nhấn mạnh và đánh giá về nội dung phát ngôn. Bài viết này tập trung khảo sát và miêu tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa tình thái và đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ trong tiếng Việt, bao gồm: nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp (duy, chỉ, độc, mỗi, trần) và nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao (đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí). Kết quả nghiên cứu góp phần làm rõ hệ thống hư từ tiếng Việt và có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong dạy học tiếng Việt.

TỪ KHÓA: trợ từ, trợ từ đánh giá mức độ, hư từ tiếng Việt, ý nghĩa tình thái

 

MODAL MEANING AND USAGE CHARACTERISTICS OF DEGREE-EVALUATIVE PARTICLES IN VIETNAMESE

Abstract: In Vietnamese, particles (trợ từ) are among the most important function words for expressing modal meaning, emphasis, and evaluative attitudes towards the propositional content of utterances. This article systematically investigates the grammatical, modal-semantic, and usage characteristics of degree-evaluative particles in Vietnamese, covering two semantically contrasting groups: the low-degree evaluative particles (duy, chỉ, độc, mỗi, trần) - expressing limitation, restriction, or uniqueness - and the high-degree evaluative particles (đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí) - expressing excess, abundance, or unexpected high degree. Each particle is analyzed in terms of syntactic position, combinatory patterns, modal nuances, and stylistic register, illustrated with examples from both literary and everyday Vietnamese. The findings contribute to the theory of Vietnamese function words and may serve as reference material for Vietnamese language pedagogy.

Keywords: particles, degree-evaluative particles, Vietnamese function words, modal meaning

 

Mở đầu

Đánh giá tức là so sánh một yếu tố theo một chuẩn nào đấy. Nói chung, sự so sánh và đánh giá của con người là đa dạng và thường theo hai chiều ngược nhau: chiều đánh giá thấp, đánh giá hạn chế, gọi chung là đánh giá âm (−); và chiều đánh giá cao, đánh giá hơn mức bình thường, gọi chung là đánh giá dương (+). Đánh giá mà bài viết đề cập đến bao hàm cả về số lượng, phạm vi, mức độ. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc trình bày, chúng tôi gọi giản lược là “đánh giá mức độ”. Đánh giá mức độ có sự đối lập giữa: ít >< nhiều; thấp >< cao; đánh giá về hình thức có sự đối lập giữa: đẹp >< xấu; tốt >< xấu; giỏi >< kém,... Đánh giá và nhấn mạnh vào một nội dung, ý nghĩa nào đó của phát ngôn là chức năng cơ bản của trợ từ.

Trong tiếng Việt, hệ thống trợ từ rất phong phú và đa dạng. Đây là lớp hư từ mang ý nghĩa tình thái rõ nét nhất, phản ánh thái độ, quan điểm, cách đánh giá của người nói đối với nội dung được đề cập. Bài viết này tập trung vào nhóm trợ từ đánh giá mức độ, một tiểu nhóm quan trọng trong hệ thống trợ từ tiếng Việt, gồm hai nhóm đối lập nhau: nhóm biểu thị đánh giá mức độ âm (-) (còn gọi là đánh giá ít, giới hạn, hạn chế) và nhóm biểu thị đánh giá mức độ dương (+) (đánh giá nhiều, vượt trội so với kỳ vọng).

Một điểm đáng chú ý là nhiều trợ từ trong nhóm này vốn là hư từ kiêm, tức là cùng một từ có thể đảm nhận chức năng của phó từ lẫn trợ từ tùy ngữ cảnh. Điều này tạo ra sự phức tạp trong việc nhận diện và miêu tả chức năng của chúng. Bài viết sẽ lần lượt phân tích từng trợ từ, kết hợp dẫn ngữ liệu từ văn học và đời sống để làm rõ đặc điểm sử dụng.

1. Tổng quan nghiên cứu

Trợ từ là một trong những đối tượng phức tạp và thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam từ trước đến nay. Có thể điểm qua các hướng nghiên cứu chính như sau.

Theo cách tiếp cận truyền thống, Nguyễn Kim Thản (1977, 1997) là một trong những người đầu tiên hệ thống hóa hư từ tiếng Việt. Ông xem trợ từ là những từ "dùng để biểu thị thái độ, sự đánh giá chủ quan của người nói đối với sự việc được đề cập". Uỷ ban Khoa học xã hội (1983) trong Ngữ pháp tiếng Việt đã xếp trợ từ vào nhóm hư từ nhưng chưa phân loại chi tiết thành các tiểu nhóm theo chức năng đánh giá.

Đinh Văn Đức (1986) trong Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại) đã nhận xét rằng: "các từ phụ của động từ và tính từ trong tiếng Việt đều đồng thời tham gia diễn đạt tính tình thái", đặt nền tảng cho việc phân tích tính tình thái của hư từ, trong đó có trợ từ.

Nguyễn Anh Quế (1988) trong cuốn Hư từ trong tiếng Việt hiện đại đã phân loại trợ từ thành nhiều nhóm theo chức năng: trợ từ nhấn mạnh, trợ từ đánh giá về số lượng, trợ từ tình thái... Đây là công trình có hệ thống sớm nhất về trợ từ tiếng Việt và được coi là nền tảng cho nhiều nghiên cứu sau này.

Diệp Quang Ban (2004) phân biệt "tiểu từ tình thái" (gồm ngữ thái từ và trợ từ) như một tiểu loại hư từ đặc thù. Trong đó, trợ từ được ông xác định là "những từ biểu thị ý nghĩa tình thái, thường đi kèm với một thành phần câu hoặc cả câu để nhấn mạnh, đánh giá".

Hoàng Trọng Phiến (2008) trong Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt đã giải thích cách dùng của khoảng 380 hư từ, trong đó có nhiều trợ từ đánh giá mức độ được miêu tả chi tiết qua các ví dụ phong phú.

Bùi Minh Toán (2013, 2017, 2021) đã tiếp cận hư từ theo lý thuyết ba bình diện (kết học, nghĩa học, dụng học), cho rằng hư từ nói chung và trợ từ nói riêng cần được nghiên cứu trong sự tích hợp cả ba bình diện đó. Ông đặc biệt nhấn mạnh đến nghĩa hàm ẩn và chức năng văn hóa giao tiếp của hư từ tiếng Việt.

Bùi Thanh Hoa (2012) trong bài "Nhóm hư từ mang ý nghĩa đánh giá ít" đã khảo sát một số trợ từ biểu thị mức độ thấp như duy, chỉ, mỗi..., đặt câu hỏi về ranh giới giữa chức năng phó từ và trợ từ của những từ này.

Trương Thị Mỹ Hậu (2018) trong bài "Đặc điểm ngữ nghĩa của trợ từ mang sắc thái đánh giá trong tiếng Việt" đã phân tích các trợ từ đánh giá từ góc độ ngữ nghĩa học, làm rõ sắc thái biểu cảm và chức năng đánh giá của chúng trong giao tiếp.

Nhìn chung, đã có một số công trình đề cập đến trợ từ đánh giá trong tiếng Việt, nhưng chủ yếu trong khuôn khổ các công trình ngữ pháp tổng quát hoặc chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ. Bài viết này nhằm khảo sát có hệ thống hơn toàn bộ nhóm trợ từ đánh giá mức độ, đối sánh hai tiểu nhóm đối lập nhau và chú ý đến đặc điểm sử dụng cụ thể qua ngữ liệu đa dạng.

2. Khái quát về trợ từ và trợ từ đánh giá mức độ

2.1. Trợ từ trong tiếng Việt

Trợ từ (particles, emphatic words) là những hư từ không làm thành phần của đoản ngữ, không làm thành phần câu độc lập, mà chuyên bổ sung ý nghĩa tình thái cho một thành phần câu hoặc cho toàn bộ phát ngôn. Khác với phó từ luôn đứng liền kề với từ trung tâm trong đoản ngữ để bổ sung ý nghĩa, trợ từ hoạt động ở tầng câu và tầng phát ngôn.

Trợ từ mang đặc trưng tình thái (modal features) rất cao. Chúng phản ánh trực tiếp quan điểm, thái độ, sự đánh giá của chủ thể phát ngôn đối với nội dung được nói đến. Đây là điểm khác biệt quan trọng nhất giữa trợ từ và phó từ. Nếu như phó từ bổ nghĩa cho từ trung tâm trong kết cấu đoản ngữ thì trợ từ đánh giá, bình luận về một thành phần hoặc cả nội dung phát ngôn. Về mặt hình thức, vị trí của trợ từ trong câu thường linh hoạt hơn phó từ.

Cần phân biệt rõ trợ từ với phó từ trong trường hợp hư từ kiêm. Lấy ví dụ từ chỉ:

(1) Loan chỉ thích chơi bóng đá thôi.

(2) Cả nhóm con gái, chỉ Loan thích chơi bóng đá.

Trong câu (1), chỉ đứng liền trước vị từ “thích”, đảm nhiệm chức năng phó từ, có vai trò hạn định phạm vi của hành động. Trong câu (2), chỉ đứng trước chủ ngữ Loan, đánh giá về tính duy nhất của đối tượng trong tập hợp: đây chính là chức năng trợ từ. Trợ từ thôi ở cuối câu (1) mới thực sự là trợ từ nhấn mạnh ý hạn chế.

2.2. Trợ từ đánh giá mức độ và đặc trưng của nhóm

Trợ từ đánh giá mức độ là những trợ từ mà nội dung chính của chúng là biểu thị thái độ đánh giá của người nói về mức độ, số lượng, phạm vi của sự tình được đề cập trong câu. Chúng hoạt động theo hai chiều đối lập:

-  Chiều đánh giá âm (−): đánh giá mức độ thấp, ít, giới hạn, duy nhất. Nội dung phát ngôn được người nói đánh giá là ít hơn kỳ vọng, giới hạn trong một phạm vi, hoặc chỉ là duy nhất. Nhóm này bao gồm các trợ từ: duy, chỉ, độc, mỗi, trần.

-  Chiều đánh giá dương (+): đánh giá mức độ cao, nhiều, vượt trội, bất ngờ. Nội dung phát ngôn được người nói đánh giá là nhiều hơn kỳ vọng, vượt quá mức bình thường. Nhóm này bao gồm các trợ từ: đến, tới, những, cả, hẳn.

Một đặc điểm quan trọng là trong tiếng Việt, các trợ từ đánh giá mức độ thấp chủ yếu có gốc Hán Việt (duy 唯, chỉ
, độc 獨, mỗi , trần ), trong khi các trợ từ đánh giá mức độ cao chủ yếu là thuần Việt (đến, tới, những, cả, hẳn). Điều này phần nào phản ánh ảnh hưởng của tiếng Hán đối với cách biểu đạt sự hạn chế, thu hẹp trong tiếng Việt.

 

Bảng 1. Phân loại trợ từ đánh giá mức độ trong tiếng Việt

Chiều đánh giá

Trợ từ

Nguồn gốc

Ý nghĩa khái quát

Âm (−) Đánh giá mức độ thấp/ít/giới hạn

duy, chỉ, độc, mỗi, trần

Hán Việt

Số lượng/phạm vi ít, hạn chế, chỉ duy nhất, không còn gì hơn

Dương (+) Đánh giá mức độ cao/nhiều/vượt trội

đến, tới, những, cả, hẳn

Việt

Số lượng/phạm vi nhiều, đáng kể, vượt kỳ vọng, bất ngờ

 

3. Nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp

Nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp là phương tiện để chủ thể phát ngôn bày tỏ quan điểm, thái độ nhận định về sự tình, đối tượng theo chiều: ít, hạn chế, giới hạn, duy nhất. Nhóm này gồm: duy, chỉ, độc, mỗi, trần.

3.1. Trợ từ chỉ

Chỉ là một hư từ kiêm: phó từ và trợ từ, cũng như nhiều hư từ kiêm khác của tiếng Việt (đã, những, đến, v.v.) Vì thế, khi từ chỉ xuất hiện trong một ngữ cảnh nào đó, thường khó phân biệt được vai trò ngữ pháp cụ thể của nó là phó từ hay trợ từ.

Khi chỉ đi kèm trước một vị từ (động từ) thì nó đóng vai trò phó từ mang ý nghĩa hạn định cho hành động ấy. Khi chỉ đứng trước danh từ, đại từ, tức là nó có vị trí khá tự do trong câu, thì nó là trợ từ đánh giá về số lượng, phạm vi. Trợ từ chỉ không phải là đánh giá số lượng ít mà là đánh giá về tính duy nhất hoặc tính giới hạn. Ví dụ:

(3) ... phiếm du ngoài các phố Hà Nội là một cái thú vô song chỉ người Hà Nội có...  (Thạch Lam, Hà Nội 36 phố phường)

(4) Nhưng cũng chỉ lúc ấy thôi, còn thì lặng yên, lặng yên hoàn toàn.  (Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn)

Cũng vì thế mà vị trí của trợ từ chỉ trong câu khá linh hoạt: nó có thể đứng đầu hoặc giữa câu, tùy theo vị trí của đối tượng được nhấn mạnh. Trợ từ chỉ thường đi kèm cuối phát ngôn với các trợ từ thôi, mà thôi, làm thành kết cấu đánh giá sự hạn chế về số lượng, giới hạn về phạm vi:

chỉ + ... + thôi / mà thôi

(5) Gọi là "yêu", nhưng chỉ nói với nhau được dăm ba câu rồi lại về thôi.  (Nguyễn Huy Thiệp, Những người thợ xẻ)

(6) ... trên đời này chỉ có mình bà là thương tôi mà thôi.  (Nam Cao, Lão Hạc)

3.2. Trợ từ duy

Duy cũng là một trợ từ kiêm phó từ có chức năng tương đương với chỉ. Duy được dùng khá phổ biến trong các văn bản tiếng Việt giai đoạn 1930-1945 trở về trước, xuất hiện nhiều trong văn xuôi chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, gần đây duy gần như đã được thay thế bằng chỉ. Tần suất hoạt động và tính phổ biến của duy thấp hơn nhiều lần so với chỉ.

Duy chỉ thích hợp với phong cách văn chương, trong các cách nói nệ cổ mà xa rời với phong cách khoa học, hành chính. Ví dụ:

(7) Đêm nọ canh khuya vắng vẻ, trong nhà tôi tớ đến ngủ hết, duy lối xóm còn một hai nhà thức giã gạo, và dưới sông một lát nghe tiếng hát rả rích của mấy người chèo ghe mà thôi.  (Hồ Biểu Chánh, Một chữ tình)

(8) Ai nấy đều cười, duy Xuân Hương ngồi im một mình.  (Nguyễn Công Hoan, Đào kép mới)

(9) Tôi chẳng thấy gì cả, duy nhớ mãi cái bóng nhỏ bé, lủi thủi đi trong mưa.  (Nam Cao, Sống mòn)

Ý nghĩa tình thái của duy gần giống với chỉ, nhưng duy có sắc thái trang trọng, cổ kính hơn và thường hàm chứa một chút ngậm ngùi, xúc cảm về sự thiếu vắng hay đơn độc.

3.3. Trợ từ độc

Khác với hai trợ từ duy, chỉ, thường được dùng để đánh giá giới hạn về mặt đối tượng; độc có phạm vi sử dụng rộng hơn: đánh giá hành động, trạng thái, sự việc, sự vật. Nội dung được đem ra đánh giá có thể biểu hiện bằng động từ, tính từ hoặc số từ, danh từ.

Về vị trí ngữ pháp, trợ từ độc đứng ngay phía trước yếu tố ngôn ngữ mà nó đánh giá, nhấn mạnh. Khi đánh giá về tính duy nhất, tính giới hạn của hành động, trợ từ độc thường bao hàm những nhận định, bình luận, phê bình về sự không chính đáng, không đúng đắn. Chẳng hạn: độc nghĩ lung tung, độc nói nhảm…

Đặc biệt, khi nhấn mạnh về tính duy nhất của sự vật, trợ từ độc thường đi kèm với phó từ chỉ ở phía trước và số từ một ở phía sau, tạo thành cấu trúc ba thành tố:

chỉ + ... + độc + một + ...

Trong 100 văn cảnh có trợ từ độc được thống kê từ các tác phẩm văn học, có đến 62 trường hợp độc kết hợp theo cấu trúc đầy đủ ba thành tố  nêu trên. Ví dụ:

(10) Năm đứa chỉ làm độc một nghề...  (Chu Lai, Sông xa)

(11) - Dạ, bẩm cậu, ở hũ lớn cũng chỉ còn độc một bình.  (Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời)

(12) Anh ta chỉ mặc độc một chiếc quần đùi rộng ống đã rách te tua ở gấu...

(13) Bù lại, cậu chỉ cần làm độc một việc: thiết kế cho tôi một căn hộ ba tầng.  (Chu Lai, Phố nhà binh)

Trong kết cấu này, một trong hai thành tố chỉ hoặc một, hoặc cả hai có thể vắng mặt mà không ảnh hưởng đến ý nghĩa của phát ngôn. Kết cấu vắng “chỉ:

(14) Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành.  (Kim Lân, Vợ nhặt)

Kết cấu vắng “một:

(15) Sáng hôm đó trời lạnh cắt ruột, anh chỉ mặc độc chiếc may ô trắng và quần đùi xanh ống bó sát đùi.  (Phùng Quán, Tuổi thơ dữ dội)

Kết cấu vắng cả “chỉ và “một:

(16) Mụ Hai Nà nằm sấp trong mui lái ghe. Trời oi bức, mụ mặc độc chiếc áo lót ngắn.  (Anh Đức, Người đào hát)

3.4. Trợ từ mỗi

Mỗi cũng là một hư từ kiêm đa chức năng: khi thì nó đứng trước danh từ làm phó từ hạn định số lượng; khi thì kết hợp với hư từ “mỗi”, “một” làm thành cặp liên từ biểu thị quan hệ tăng tiến hoặc tương ứng 1-1; khi thì nó lại làm trợ từ biểu thị sự đánh giá về số lượng: chỉ duy nhất, không còn gì hơn.

Trong trường hợp mỗi làm trợ từ, nó thường kết hợp với số từ một đi kèm (mỗi một...). Ví dụ:

(17) Bà có mỗi một mống con thôi. Ai chả tưởng: quí hơn vàng.  (Nam Cao, Điếu văn)

Ngoài ra, mỗi còn biểu thị ý nghĩa đánh giá ít về số lượng, ý nghĩa duy nhất, không còn gì khác, và có thể kết hợp với các số từ biểu thị số nhiều. Trong những trường hợp này, mỗi không thể hiện ý nghĩa "phần tử rút ra từ bộ phận" mà diễn đạt ý nghĩa hạn định về mặt số lượng, luôn bao hàm sắc thái biểu cảm. Ví dụ:

(18) Đến cánh đồng bông, tôi thấy anh chui vào, một lát sau chui ra, thấy người khác hẳn, trên người buộc đầy cành lá, mình mặc mỗi chiếc quần đùi.  (Nguyễn Huy Thiệp, Những người thợ xẻ)

Trong câu (18), “mỗi chiếc quần đùi” có nghĩa là nhân vật chỉ duy nhất mặc một chiếc quần, ngoài ra không mặc thứ nào khác. Đứng sau trợ từ mỗi còn có thể là số từ biểu thị số nhiều:

(19) Hay các bác về nhà chúng tôi? Nhà chỉ có mỗi hai vợ chồng son, cũng rộng rãi.  (Nguyễn Huy Thiệp, Những người thợ xẻ)

(20) Ông Vỹ đông con, nhà nghèo, về mang theo mỗi chục quả tai chua với chai rượu trắng làm quà.  (Nguyễn Huy Thiệp, Không có vua)

(21) Kiên biết, dưới cái bóng âm u, hoang vắng nọ (...) chỉ có mỗi ba cô gái...  (Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh)

Trong các ví dụ (19), (20), (21), mặc dù đứng sau mỗi là các từ biểu thị số nhiều (hai, chục, ba), nhưng các phát ngôn đều hàm chứa ý nghĩa đánh giá ít về số lượng. Đây chính là sắc thái tình thái đặc trưng của trợ từ mỗi.

3.5. Trợ từ trần

Trần dùng trong cách đánh giá có tính giới hạn. Người nói bày tỏ thái độ đánh giá về mức độ, số lượng, chất lượng, phạm vi, tính chất trong một giới hạn nào đó và không có gì thêm nữa. Ví dụ:

(22) Nhà bà cụ bị kẻ cướp vơ vét hết chỉ còn trần cái niêu đất.  (dẫn theo Hoàng Trọng Phiến, tr. 265)

(23) Trên người chỉ trần chiếc quần cộc.  (dẫn theo Từ điển tiếng Việt 2014, tr. 1320)

(24) Trong nhà có trần bộ bàn ghế.

Về vị trí trong câu, trợ từ trần không có được sự linh hoạt như các trợ từ đánh giá mức độ khác. Nó luôn đứng liền trước đối tượng được đưa ra đánh giá. Về mặt kết hợp, trần cũng thường đi kèm với phó từ chỉ ở phía trước, làm thành kết cấu: chỉ... trần..., trong đó một trong hai thành tố có thể lược bỏ mà không ảnh hưởng đến ý nghĩa đánh giá.

So sánh với các trợ từ cùng nhóm, trần có sắc thái biểu cảm mạnh hơn duy, chỉ. Nó không chỉ đánh giá về số lượng ít mà còn hàm chứa thái độ thương cảm, ngạc nhiên, hoặc bất mãn trước sự thiếu thốn, nghèo nàn về vật chất.

 

Bảng 2. So sánh đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp

Trợ từ

Nguồn gốc

Vị trí trong câu

Kết cấu thường gặp

Phong cách sử dụng

chỉ

Hán Việt

Linh hoạt (đầu/giữa câu)

chỉ...thôi/mà thôi

Mọi phong cách, thông dụng nhất

duy

Hán Việt

Đầu/giữa câu

duy...mà thôi

Văn chương, cổ điển; nệ cổ

độc

Hán Việt

Trước đối tượng nhấn mạnh

chỉ...độc một...

Văn học, khẩu ngữ

mỗi

Hán Việt

Trước số từ/danh từ

mỗi một...; mỗi + số nhiều

Khẩu ngữ, văn học

trần

Hán Việt

Trước đối tượng nhấn mạnh (cố định)

chỉ...trần...

Khẩu ngữ, văn học

 

4. Nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao

Đối lập với nhóm trợ từ đánh giá mức độ thấp ở trên là nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao, những từ biểu thị thái độ đánh giá rằng số lượng, phạm vi, mức độ của sự tình nhiều hơn, vượt trội hơn so với kỳ vọng thông thường. Nhóm này bao gồm: đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí. Nhóm này hầu hết là từ thuần Việt (chỉ có thậm chí là từ Hán Việt).

4.1. Trợ từ đến

Đến vốn là động từ chỉ sự di chuyển (ví dụ: Tàu vừa đến ga.), nhưng khi trải qua quá trình hư hóa, chuyển loại thành trợ từ, nó biểu thị thái độ ngạc nhiên, bất ngờ, hay nhấn mạnh về số lượng, mức độ vượt quá kỳ vọng của người nói. Trợ từ đến thường đứng trước số từ hoặc danh từ chỉ số lượng. Sắc thái của trợ từ đến là đánh giá số lượng nhiều một cách đáng ngạc nhiên, đôi khi hàm ý thán phục hay lo ngại.

(25) Anh ấy đã viết đến ba cuốn sách trong một năm! (Khẩu ngữ)

(26) Tính ra đến lúc ấy anh ta đã ăn cắp của anh em đến hai mươi vạn rồi. (Nguyễn Khải, Chuyện người tổ trưởng máy kéo)

(27) Chị ơi, cái áo này đắt đến hai triệu cơ đấy! (Khẩu ngữ)

(28) Anh ta cứ thế, đọc thuộc lòng cho tôi nghe cả một bài dài đến năm trang giấy. (Nam Cao, Đôi mắt)

Trong các câu vừa dẫn, trợ từ đến hàm chứa ý nghĩa đánh giá: số lượng được đề cập là nhiều, cao, hoặc kéo dài hơn bình thường, đồng thời biểu thị thái độ ngạc nhiên, thậm chí phàn nàn của người nói. Khi kết hợp với từ cả ở đầu câu, trợ từ đến tạo thành cấu trúc đánh giá tăng cường:

(29) Cả trẻ con cũng biết chuyện đó, huống gì đến người lớn.

(30) Cả đến chuyến tàu chở tôi và Lâm từ thành phố về buổi sáng nay nữa, tôi cũng quên biến. (Nguyễn Huy Thiệp, Những bài học nông thôn)

4.2. Trợ từ tới

Tới có ý nghĩa và chức năng gần giống với trợ từ đến, cũng biểu thị sự đánh giá về số lượng, mức độ nhiều, cao, vượt trội. Sự khác biệt chủ yếu là ở phong cách: tới mang sắc thái khẩu ngữ rõ hơn, thông dụng hơn trong lời nói hằng ngày; đến thì có thể dùng trong cả văn viết. Ví dụ:

(31) Mày nợ tao tới chục triệu đồng rồi mà mày quên à?  (Khẩu ngữ)

(32) Thằng bé học tới trường chuyên tỉnh, giỏi lắm.  (Khẩu ngữ)

(33) Nó làm việc tới tận nửa đêm mới về. (Khẩu ngữ)

Giống như đến, tới cũng có thể xuất hiện trong các câu biểu thị mức độ đạt đến một giới hạn ấn tượng: tới mức, tới nỗi, làm thành kết cấu đánh giá mức độ hệ quả.

(34) Anh ta cười to tới nỗi nước mắt chảy ra ròng ròng.

(35) Câu chuyện hay tới mức cả lớp ngồi im thin thít lắng nghe.

4.3. Trợ từ những

Những vốn là phó từ biểu thị số nhiều, đứng trước danh từ (những con người, những cánh đồng...), nhưng khi chuyển loại thành trợ từ, nó đứng trước số từ để biểu thị đánh giá về số lượng nhiều, vượt quá mức bình thường hay kỳ vọng. Đây là một trong những trường hợp điển hình của hư từ kiêm trong tiếng Việt.

Khi làm trợ từ, những thường đứng trước số từ cụ thể và hàm chứa thái độ ngạc nhiên, thán phục hoặc thậm chí phàn nàn về sự quá nhiều. Ví dụ:

(36) Nó ăn những ba bát cơm! (Khẩu ngữ)

(37) Nếu còn những bốn người chưa có vợ thì tôi đành là không có phần. (Nam Cao, Cái mặt không chơi được)

Cũng có trường hợp, trợ từ những đứng trước danh từ (những + [danh từ]), đánh giá mức độ nhiều, dày đặc, không có gì khác ngoài thứ, vật được nói đến, như sự kết hợp những + mỡ trong câu (38) dưới đây:

(38) Hắn tưởng tượng ra cái cảnh lũ con háu ăn và đói khát, rón thịt bằng tay và ăn những miếng bánh thật to, miệng phụng phịu và môi bóng nhờn những mỡ. (Nam Cao, Đời thừa)

Cần phân biệt những với tư cách phó từ đứng trước danh từ đếm được và những với tư cách trợ từ đứng trước danh từ không đếm được (mỡ). Trong câu (38):

Phó từ: những miếng bánh  đứng trước danh từ (miếng bánh), không hàm ý đánh giá về lượng

Trợ từ: những mỡ    đứng trước danh từ không đếm được, hàm ý vật/ chất (mỡ) vượt kỳ vọng về lượng.

4.4. Trợ từ cả

Cả là trợ từ đánh giá bao gộp, nhấn mạnh tính toàn bộ, không có ngoại lệ. Khi làm trợ từ, cả đứng trước danh từ, đại từ hoặc cụm từ để biểu thị thái độ đánh giá: kể cả, không loại trừ, thậm chí ngay cả cái/người bình thường nhất cũng vậy. Ví dụ:

(39) Trận ấy thắng lớn. Cả trời đất cũng như vui theo. (Nguyễn Minh Châu, Dấu chân người lính)

(40) Mọi người đều biết chuyện, cả trẻ con cũng biết.

(41) Cả đến cái tên mình, lúc ấy mình cũng không nhớ nổi.  (Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh)

(42) Trời rét đến nỗi cả cây cỏ cũng run cầm cập.

Trợ từ cả thường xuất hiện trong cặp: cả ... cũng/cũng đều/đều, tạo thành cấu trúc đánh giá bao gộp và tăng cường:

cả + [thành phần được nhấn mạnh] + cũng / đều / cũng đều

Sắc thái tình thái của trợ từ cả thường là sự ngạc nhiên pha lẫn thán phục hay ngậm ngùi: ngay cả điều/người tưởng như khó có thể xảy ra/tham gia cũng không phải là ngoại lệ.

4.5. Trợ từ hẳn

Hẳn là trợ từ biểu thị sự đánh giá chắc chắn, rõ ràng, không thể phủ nhận về mức độ hay tính chất của sự tình. Trợ từ hẳn hàm chứa thái độ khẳng định mạnh, đôi khi pha chút ngạc nhiên rằng sự tình đúng như vậy, rõ ràng là như vậy. Ví dụ:

(43) Chị ấy đẹp hẳn lên sau khi về quê nghỉ ngơi một thời gian.

(42) Thằng bé lớn hẳn, tôi gần như không nhận ra nữa.

(45) Ăn được bát cơm nóng, người tôi khỏe hẳn.

(46) Từ khi sang học lớp mới, nó học khá hẳn ra.

Hẳn thường đứng sau tính từ hoặc vị từ trạng thái, biểu thị sự thay đổi rõ rệt, đáng kể. Cũng vì thế mà hẳn hay xuất hiện trong những phát ngôn miêu tả sự biến đổi tích cực qua thời gian. Kết hợp phổ biến: tính từ/vị từ + hẳn hoặc tính từ/vị từ + hẳn ra, hẳn lên.

So sánh hẳn với các trợ từ đánh giá mức độ cao khác:

(47) Anh ta gầy đến mức không nhận ra được. (đến: ngạc nhiên về mức độ)

(48) Anh ta gầy những chục cân. (những: ngạc nhiên về số lượng cụ thể)

(49) Anh ta gầy hẳn đi so với trước. (hẳn: nhấn mạnh sự thay đổi rõ ràng)

 

4.6. Trợ từ thậm chí

Thậm chí có vị trí linh hoạt trong câu: đứng đầu câu/vế câu (hoặc trong câu). Là cầu nối giữa hai thành phần nội dung: thành phần nêu hiện trạng thông thườngthành phần nêu nghịch lí/cực điểm. Thành phần đứng sau thậm chí mới là trọng tâm của thông báo. Trong tiếng Việt, thậm chí linh hoạt hơn tiếng Hán về vị trí. Nó có thể đứng đầu câu độc lập hoặc giữa câu.

Về ngữ nghĩa, trợ từ thậm chí dùng để đánh giá rằng điều đang nói đến còn vượt xa hơn cả những điều đã biết hoặc đã nói trước đó. Thậm chí nêu cực điểm trong thang độ với hàm ý: nếu điều trước đã đáng chú ý, điều sau lại còn đáng chú ý hơn, tới mức không ngờ đến:

(50) Liên bị ép gả, không yêu hắn, thậm chí căm hờn hắn. (Ma Văn Kháng)

(51) Tôi không sợ những lời quát mắng. Thậm chí những câu chửi rủa tục tằn cũng không làm tôi bực tức hay run sợ nữa. (Đoàn Giỏi)

 

Bảng 3. So sánh đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ cao

Trợ từ

Vị trí trong câu

Kết hợp thường gặp

Sắc thái tình thái chính

đến

Trước số từ, danh từ, đoản ngữ

đến + số từ; cả... đến...

Ngạc nhiên/nhấn mạnh về mức độ/phạm vi; lo ngại

tới

Trước số từ, đoản ngữ

tới + số từ; tới mức/nỗi + kết quả

Ngạc nhiên về số lượng; khẩu ngữ hơn đến

những

Trước số từ hoặc danh từ không đếm được

những + số từ

Ngạc nhiên/thán phục về số lượng nhiều, vượt kỳ vọng

cả

Trước danh từ/cụm từ

cả + X + cũng/đều

Bao gộp không ngoại lệ; thậm chí/kể cả

hẳn

Sau tính từ/vị từ

tính từ + hẳn; hẳn + ra/lên/đi

Khẳng định sự thay đổi rõ ràng, đáng kể

thậm chí

Tự do

[mệnh đề thông thường] + thậm chí +[mệnh đề nghịch lý]

Đánh giá điều vượt xa kì vọng

 

5. Một số đặc điểm sử dụng của nhóm trợ từ đánh giá mức độ

5.1. Sự đối lập giữa hai nhóm trong cùng một phát ngôn

Hai nhóm trợ từ đánh giá mức độ đối lập nhau có thể xuất hiện trong cùng một phát ngôn để tạo ra hiệu quả đối chiếu, nhấn mạnh về sự tương phản:

(52) Chỉ một chén rượu mà anh đã say đến ngã không đứng dậy được.

Trong câu (52), chỉđến tạo thành cấu trúc tương phản: chỉ + ít (một chén) nhưng đến + nhiều (mức kết quả nặng). Đây là một dạng cấu trúc thông dụng trong lời nói hằng ngày để biểu thị sự tương phản mức độ nguyên nhân - kết quả.

5.2. Nhận diện các hư từ kiêm  

Như đã phân tích, nhiều trợ từ trong cả hai nhóm là hư từ kiêm. Điều này tạo ra không ít khó khăn trong việc nhận diện. Tiêu chí phân biệt hữu hiệu nhất là: (1) phó từ đứng liền kề với từ trung tâm trong đoản ngữ; (2) trợ từ đứng liền kề với thành phần được đánh giá nhấn mạnh và hoạt động ở tầng câu, không phụ thuộc vào đoản ngữ. Ngoài ra, ý nghĩa tình thái (đánh giá, nhấn mạnh) là dấu hiệu rõ ràng của trợ từ.

5.3. Sắc thái biểu cảm và phong cách sử dụng

Mỗi trợ từ trong hai nhóm có sắc thái biểu cảm riêng biệt và gắn với các phong cách sử dụng nhất định. Nhìn chung, các trợ từ Hán Việt (duy, chỉ, độc, mỗi, trần) mang sắc thái trang trọng, văn chương hơn; các trợ từ thuần Việt (những, đến, tới, cả, hẳn) phổ biến hơn trong giao tiếp hằng ngày và trong ngôn ngữ văn học hiện đại. Sự lựa chọn đúng trợ từ trong từng ngữ cảnh thể hiện trình độ sử dụng tiếng Việt và khả năng biểu cảm tinh tế.

Kết luận

Trợ từ đánh giá mức độ trong tiếng Việt tạo thành một tiểu hệ thống đối xứng gồm hai nhóm đối lập: nhóm đánh giá thấp gồm: duy, chỉ, độc, mỗi, trần và nhóm đánh giá cao, gồm: đến, tới, những, cả, hẳn, thậm chí). Giữa hai nhóm có sự phân công về nguồn gốc từ nguyên: nhóm đánh giá thấp hoàn toàn là từ Hán Việt, trong khi nhóm đánh giá cao hầu hết là từ thuần Việt.

Mỗi trợ từ đánh giá mức độ đều có đặc điểm riêng về vị trí cú pháp, khả năng kết hợp, sắc thái tình thái và phong cách sử dụng. Sự phân biệt rõ ràng nhất giữa trợ từ và phó từ kiêm cùng loại là: trợ từ hoạt động ở tầng câu, nhấn mạnh và đánh giá toàn bộ hoặc một thành phần phát ngôn về mặt mức độ, số lượng, phạm vi; trong khi phó từ bổ nghĩa cho từ trung tâm trong đoản ngữ.

Nghiên cứu nhóm trợ từ đánh giá mức độ không chỉ làm phong phú thêm lý thuyết về hư từ và tình thái trong tiếng Việt, mà còn có ý nghĩa ứng dụng thiết thực trong dạy học tiếng Việt, đặc biệt là dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài - những người thường gặp khó khăn khi phân biệt sắc thái và chức năng của các hư từ thuộc nhóm kiêm loại này.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2.      Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb. Đại học và THCN, Hà Nội.

3.      Trương Thị Mỹ Hậu (2018), "Đặc điểm ngữ nghĩa của trợ từ mang sắc thái đánh giá trong tiếng Việt", Tạp chí khoa học Trường Đại học Quy Nhơn, số 4-2018, tr. 59-72.

4.      Bùi Thanh Hoa (2012), "Nhóm hư từ mang ý nghĩa đánh giá ít", Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr. 56-62.

5.      Hoàng Thị Thanh Huyền (2016), "Trợ từ đánh giá trong tiếng Việt nhìn từ góc độ ngữ dụng học", Kỉ yếu Hội thảo Quốc gia "Nghiên cứu Liên ngành về Ngôn ngữ và Giảng dạy Ngôn ngữ lần II", Đại học Ngoại ngữ, Đại học Huế, tr. 268-277.

6.      Đỗ Phương Lâm (2014), Hư từ Hán Việt trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.

7.      Hoàng Trọng Phiến (2008), Từ điển giải thích hư từ tiếng Việt, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

8.      Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

9.      Nguyễn Anh Quế (1988), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

10. Nguyễn Kim Thản (1997), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

11. Bùi Minh Toán (2013), "Hư từ tiếng Việt: Tiếp cận tích hợp từ lí thuyết ba bình diện", Từ điển học & Bách khoa thư, (3), tr. 19-26.

12. Bùi Minh Toán (chủ biên, 2017), Hư từ tiếng Việt trên các bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng, NXB. ĐHQG Hà Nội.

13. Bùi Minh Toán (2021), "Về văn hóa giao tiếp của người Việt qua việc sử dụng hư từ mang nghĩa hàm ẩn", Tạp chí Khoa học Đại học Tân Trào, số 4 (2021), tr. 17-23.

14. Trung tâm từ điển học (2014), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội.

15. Uỷ ban Khoa học xã hội (1983), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. KHXH, Hà Nội.

16. Phạm Hùng Việt (2003), Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB. KHXH.

 

Nguồn ngữ liệu

1.      Nam Cao, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học, 2011.

2.      Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh, Nxb. Văn học, 2012.

3.      Chu Lai, Sông xa; Phố nhà binh, Nxb. Văn học.

4.      Kim Lân, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học, 2018.

5.      Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, Nxb. Văn học, 2010.

6.      Nguyễn Công Hoan, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học, tái bản 2021.

7.      Nguyễn Huy Thiệp, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Hội Nhà văn, 2005.

8.      Nguyễn Minh Châu, Dấu chân người lính, Nxb. Quân đội nhân dân, 2008.

9.      Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời, Nxb. Hội Nhà văn, tái bản 2021.

10. Phùng Quán, Tuổi thơ dữ dội, Nxb. Kim Đồng, tái bản 2020.

11. Thạch Lam, Hà Nội 36 phố phường, Nxb. Văn học, tái bản 2019.

12. Anh Đức, Tuyển tập truyện ngắn, Nxb. Văn học.

13. Hồ Biểu Chánh, Tuyển tập tiểu thuyết, Nxb. Văn học.

14. Nguyễn Khải, Tập truyện ngắn, Nxb. Văn học.